Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

CHÍNH SÁCH CỦA LIÊN BANG NGA TẠI BIỂN ĐÔNG: KẾ THỪA HAY THAY ĐỔI


CHÍNH SÁCH CỦA LIÊN BANG NGA TẠI BIỂN ĐÔNG:
KẾ THỪA HAY THAY ĐỔI
(Phân tích sự chuyển đổi chính sách của Nga tại biển Đông
tính từ năm 2002 đến nay.)

Huỳnh Hồ Đại Nghĩa[1]


1.      Khái quát chính sách của Liên Bang Nga tại biển Đông tính từ năm 2002 đến trước ngày 05/04/2012[2].
Có thể thấy rằng, trong quá khứ, quốc gia hiện diện tại biển Đông trước nhất là Nga chứ không phải là Mỹ. Bằng chứng là từ những năm 80, Liên Xô đã từng kết hợp với Việt Nam khai thác mỏ Bạch Hổ ở biển Đông. Nhìn chung, có thể nói rằng khi đề cập đến vấn đề chính sách của Nga tại biển Đông thì chủ yếu là phân tích xoay quanh mối quan hệ Nga-Việt Nam.
Vào năm 2001, trước những thay đổi to lớn của thế giới và cả trong nội tại hai nước, Việt Nam và Nga đã nhất trí chấm dứt sớm thỏa thuận 1979[3] về vấn đề sử dụng cảng Cam Ranh. Đến năm 2002 thì việc nhất trí này chính thức diễn ra với sự kiện Đại tá chỉ huy trưởng Eryomin là người cuối cùng rời Cam Ranh. Từ đó đã chấm dứt sự hiện diện của các lực lượng quân sự Nga tại cảng Cam Ranh nói riêng và toàn bộ biển Đông nói chung [4]. Trong suốt những năm sau đó, quan hệ chính trị ngoại giao giữa Nga và Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả trong việc thực hiện quan hệ đối tác chiến lược. Hai bên đã tổ chức được nhiều cuộc gặp gỡ ở các cấp về các vấn đề song phương và đa phương. Có thể kể đến như vào tháng 11/2006, Tổng thống V. Putin đã có chuyến thăm thứ hai tới Việt Nam[5]; đến tháng 7/2007 là chuyến viếng thăm theo chiều ngược lại của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; đến tháng 10/2008 là chuyến thăm Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết[6]. Tuy nhiên, vấn đề biển Đông vẫn chưa thật sự hiện diện nhiều trong giai đoạn này. Nếu có chỉ có thể kể đến một số sự kiện liên quan đến biển Đông có thể coi là nổi bật hơn cả như vào ngày 23/03/2010, hãng thông tấn Nga đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly đã thông báo rằng Hải quân Nga sẽ giúp Hải quân Việt Nam trong việc xây dựng căn cứ đồn trú tàu ngầm, có thể là tại Cam Ranh. Tiếp đến ngày 07/05/2011, một hạm đội bao gồm Tàu Đô đốc Vinogradov, tàu chở dầu hạng trung Peche Nga và tàu cấp cứu SB-522 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga đã thăm Việt Nam và ghé Cảng Tiên Sa, Đà Nẵng[7].
2.      Những thay đổi liên quan đến biển Đông tính từ ngày 05/04/2012 – Lý giải nguyên nhân.
Biển Đông là một khu vực có truyền thống giao thoa nhiều lợi ích chiến lược của các cường quốc có ảnh hưởng lớn đến châu Á-Thái Bình Dương. Vì thế việc biển Đông ngày càng được gia tăng độ ưu tiên trong chính sách của các cường quốc như Nga hoàn toàn có thể xảy ra.
Nhìn chung, từ trước đến nay, Nga có hai lợi ích lớn ở Đông Nam Á là các dự án năng lượng và bán vũ khí. Nếu đánh giá một cách tổng quan thì Nga có ít lí do để xem trọng những tranh chấp trên biển Đông. Nhưng cũng như bất cứ quốc gia nào khác, Nga dĩ nhiên cũng muốn thấy khu vực này bình ổn, hoặc những bất ổn sẽ được giải quyết trên hòa bình vì những lợi ích kể trên, đặc biệt là trong mối quan hệ với Việt Nam. Chưa hết, trong chiến lược lấy lại vị thế của mình sau thời kỳ “ngủ đông”, Nga rất có thể sẽ cần một đồng minh để phát triển và mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á và với một mối quan hệ tốt đẹp có từ trước thì Việt Nam đã hiện lên như là một đối tác lí tưởng.
Nhìn lại trong những năm gần đây, bất chấp tình hình tranh chấp căng thẳng tại biển Đông ngày càng leo thang, phía Moscow hầu như không đưa ra một lời bình luận chính thức nào về vấn đề này. Bất ngờ đã xảy ra vào ngày 20/05 khi Đại sứ Nga tại Philippines đã lên tiếng “phản đối bất kỳ bên thứ 3 nào không có tranh chấp can dự vào hoạt động tranh chấp trên biển Đông” vào khu vực này và “đây là quan điểm chính thức của (chính phủ) chúng tôi. Cũng giống như Mỹ, Nga không phải là một bên tranh chấp trên biển Đông, nếu không Nga sẽ trở thành kẻ can thiệp vào công việc nội bộ của các bên tranh chấp”, với lí do “Nga quan tâm tới tự do hàng hải”[8]. Đây có thể coi là lần đầu tiên một quan chức Nga chính thức có bình luận về tình hình căng thẳng ở biển Đông. Trước đó, vào ngày 05/04/2012, tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga đã tuyên bố tham gia dự án khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ở biển Đông mà công ty Anh BP đã phải từ bỏ dưới áp lực của Trung Quốc[9].
Nếu xem vấn đề này là một ván cờ thì có thể coi đây là một nước cờ khá mạo hiểm của Nga, vì có thể thấy rằng từ trước giờ Nga vẫn đang chơi cờ nước đôi: một mặt bán vũ khí, khí tài cho các quốc gia trong khu vực, mặt khác tiếp tục thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Cũng có thể đây là một hành động của Nga nhằm giúp Việt Nam giảm thiểu một số mối lo trước những động thái ngang ngược của Trung Quốc. Đồng thời, cũng có thể coi là sự khởi đầu cho Nga trong quá trình quay trở lại châu Á.
So sánh một cách ví von thì Nga thừa hiểu đây là một “con cá” khó câu vì sẽ làm “phiền lòng” Trung Quốc, xấu nhất có thể dẫn tới xung đột. Nga cũng sẽ phải gồng mình chịu áp lực vì cỡ cường quốc như Anh với BP và Mỹ với Exxon cũng đã phải chùn bước, còn Ấn Độ thì đã dừng hợp tác trong dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128 ngoài khơi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận. Tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Nga có những lợi thế nhất định để làm cơ sở cho những hành động của mình.
Thứ nhất, Nga không hề bị lệ thuộc và càng không phải là “con nợ” của Trung Quốc, điều khác biệt với mối quan hệ khá chặt chẽ về kinh tế và tài chính của Mỹ với Trung Quốc. Do đó Nga dám đi những nước cờ táo bạo vì Trung Quốc không thể dùng áp lực kinh tế, còn Mỹ thì phải cực kỳ thận trọng.
Thứ hai, hiện Nga còn là một trong những đối tác cung cấp vũ khí lớn cho Trung Quốc. Mà Trung Quốc cũng đang mở rộng quy mô lực lượng quân đội cả về số lẫn chất lượng nhằm mục tiêu tạo áp lực cho các nước xung quanh.
Thứ ba, theo các nhà nghiên cứu thì tranh chấp ở biển Đông nếu xét trên bình diện toàn cầu thì không hẳn là vấn đề đối đầu trực tiếp với các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia,.. mà đó còn là cuộc tranh giành quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ. Do đó nên chắc chắn Trung Quốc không muốn rơi vào thế khó “lưỡng đầu thọ địch”. Đặc biệt hơn là Moscow đang không phải vướng bận vào những vấn đề lớn như Iran, Iraq, Bắc Triều Tiên,… trong khi Washington vẫn đang cần Bắc Kinh trong những vấn đề nóng bỏng như Bắc Triều Tiên.
Xét về cơ bản, dù trực tiếp hay gián tiếp thì Nga vẫn có nhiều lợi ích lớn ở biển Đông. Trong bối cảnh căng thẳng như hiện nay thì việc tập đoàn Gazprom tham gia khai thác dầu khí tại Việt Nam ít nhiều cũng thể hiện ý đố chiến lược của Moscow.
Vị thế của biển Đông phụ thuộc không chỉ vào sự dồi dào nguồn tài nguyên mà còn bởi tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này - nơi mà Nga có tầm nhìn xa chiến lược tại khu vực. Với sự phục hồi về kinh tế và liên tiếp có những cải cách quân sự ngày càng tiến bộ, Nga đã bắt đầu tiến hành hướng về phía Đông và chắc chắn Nga sẽ không bỏ qua khu vực Đông Nam Á. Việt Nam cũng như biển Đông chắc chắn nằm trong vành đai đó.
Trở lại với việc đưa ra bình luận của Đại sứ Nga tại Philippines vào ngày 20/05, có một điểm đáng lưu ý là Nga ủng hộ “giải pháp song phương”, điều mà Trung Quốc mong muốn và theo đuổi từ lâu. Nhiều nhà phân tích cho rằng có khả năng Nga đang dần thể hiện mình hướng gần hơn với Bắc Kinh. Nếu Nga tiếp tục bày tỏ thái độ như vậy trong việc này thì có thể coi như là gây thêm một khó khăn mới trong việc hướng tới quốc tế hóa và giải quyết đa phương của Việt Nam, Philippines,… Bất ngờ hơn là Nga còn tuyên bố muốn tập trận chung với Philippines. Đây chỉ có thể lại là một nước cờ đôi đầy ẩn ý của Moscow. Theo AP thì đây cũng có thể là một động thái quan trọng chứng tỏ Nga không hề tụt hậu vị thế so với Mỹ .
Chắc chắn rằng nếu Nga xuất hiện thì sẽ khiến tình hình diễn biến tại biển Đông thay đổi. Trong tình huống Nga tiếp tục đi những nước cờ táo bạo và Trung Quốc sẽ chỉ lên tiếng phản đối lấy lệ thì chủ quyền của Việt Nam trên những vùng biển này sẽ được củng cố vì sự khai thác tài nguyên trên một vùng biển nào đó nếu diễn ra tốt đẹp thì cũng là một hình thức xác định chủ quyền. Nhưng tất cả những giả thuyết trên chỉ là tình huống giả định, khả năng thành hiện thực còn là một câu hỏi khó và phải cần thời gian.
Trong Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á lần thứ 11 tại Shangri-La, Singapore với sự tham dự của đại diện tới từ 28 quốc gia châu Á – Thái Bình Dương cùng với Anh, Pháp, và Mỹ kết thúc vào ngày 03/06, Nga gần như không có một động thái hay phát biểu cụ thể nào đề cập tới vấn đề biển Đông. Trong khi Mỹ thì rất mạnh dạn bày tỏ quan điểm khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta công bố “đến năm 2020, Mỹ sẽ triển khai 60% năng lực hải quân tại Thái Bình Dương, và 40% tại Đại Tây Dương, thay đổi so với tỷ lệ 50:50 hiện nay” [10]. Điều này làm nhiều người đặt câu hỏi về việc liệu rằng Nga có thật sự quan tâm đến biển Đông hay không khi mà những động thái liên quan vẫn chưa thật sự rõ ràng.
Xét về cơ bản, Nga hợp tác với Việt Nam nhằm tận dụng những ưu thế cực lớn của biển Đông cũng không khác gì việc Mỹ hậu thuẫn cho Philippines. Tuy nhiên, có thể thấy rằng hiện Nga thực sự chưa đủ sức mạnh để triển khai trên tầm quốc tế, điều này khác hoàn toàn so với Mỹ. Việc Nga đang có nhiều lợi ích chung với Trung Quốc cũng khiến Nga không thể hiện được quá nhiều trên biển Đông. Tuy nhiên, không thể vì thế mà xem thường vai trò và những gì Nga có thể làm ở biển Đông. Dưới sự lãnh đạo của Putin và việc Nga đã thành lập Bộ phát triển Viễn Đông thì rõ ràng Nga sẽ tiếp tục chú trọng phát triển chính sách hướng Đông. Và để chính sách này tiến hành tốt thì Nga phải cần một môi trường ổn định cả trong nước lẫn quốc tế. Vì thế, việc biển Đông dậy sóng rõ ràng là không tốt cho Nga, và Nga dĩ nhiên sẽ sẵn sàng duy trì mối quan hệ đối tác chiến lược mang tính xây dựng với Việt Nam tại biển Đông.
Trong chuyến thăm chính thức của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tới Nga theo lời mời của Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergey Lavrov vào ngày 29/6- 3/7 thì hai bên cũng đã lên tiếng nhắc lại là mọi tranh chấp tại biển Đông nên được xử lý theo luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC. Theo đó, Bộ trưởng Sergey Lavrov cũng lên tiếng ủng hộ Việt Nam bằng cách kêu gọi nhanh chóng xây dựng được một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc đối với các bên về tranh chấp trên Biển Đông COC. Một tờ báo mạng chuyên ngành có uy tín tại Nga cũng vừa đăng một bài nhìn nhận về những căng thẳng đang xảy ra trên biển Đông, kèm theo một lời “cảnh báo” rằng “trong trường hợp Trung Quốc muốn tiến tới, nước này sẽ gặp phản ứng không chỉ từ phía Việt Nam, mà cả Nga và Hoa Kỳ”[11].
Qua đó, có thể thấy rằng mặc dù Nga và Trung Quốc hiện vẫn đang là hai đối tác của nhau trên trường quốc tế và có sự phối hợp chặt chẽ trên nhiều hồ sơ quốc tế để chống lại các nước phương Tây, đặc biệt là trong vấn đề Syria và Iran. Tuy nhiên, Moscow lại đang nhìn nhận sự trỗi dậy của Bắc Kinh ở châu Á-Thái Bình Dương với một thái độ nghi ngại, với sự lo sợ về vị thế của mình. Và điều này dĩ nhiên đang rất có lợi cho Việt Nam.
Trong khi những tín hiệu tích cực đến từ chuyến thăm chính thức của ông Phạm Bình Minh chưa hết nóng thì dư luận lại có dịp đổ dồn sự chú ý vào chuyến thăm chính thức Nga vào cuối tháng 7/2012 của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang nhằm tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược[12]. Theo thông tin của Bộ Ngoại giao Việt Nam đưa ra thì chuyến thăm kéo dài 5 ngày từ ngày 26 đến 30/7. Trong đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có cuộc gặp với Tổng thống Nga Vladimir Putin, sau đó là Thủ tướng đồng thời là Chủ tịch đảng Nước Nga thống nhất Dmitry Medvedev, và các lãnh đạo cấp cao khác[13]. Có một điều đặc biệt trong chuyến đi này là các cuộc gặp và làm việc giữa ông Trương Tấn Sang và ông Putin sẽ diễn ra ra thành phố nghỉ mát Sochi bên bờ Biển Đen. Đây là nơi mà đất nước Nga luôn dành để đón tiếp lãnh đạo của các cường quốc hoặc những quốc gia có quan hệ thân thiết và tin cậy. Điều này đã làm cho dư luận đoán được rằng ông Putin đang có thái độ coi trọng Việt Nam như thế nào.
Xung quanh chuyến đi này, dư luận cũng đang rất quan tâm là liệu vấn đề biển Đông có được đưa ra thảo luận giữa Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Putin hay không. Hiện nay Nga đang là một trong vài nước lớn có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. Cơ chế đối thoại chiến lược Ngoại giao - An ninh - Quốc phòng thường niên hoạt động đều đặn và hiệu quả[14]. Việt Nam cũng là một trong những đối tác mua vũ khí nhiều nhất của Nga[15]. Liên tục trong nhiều năm qua, Nga đã bán cho Việt Nam nhiều vũ khí tối tân như máy bay tiêm kích SU-27, SU-30, hộ tống hạm Gepard, tài ngầm lớp Kilo, hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển K-300P Bastion và tổ hợp tên lửa S300[16]. Đặc biệt hơn khi đa phần những vũ khí mà Việt Nam mua từ Nga đều nhằm phòng vệ biển, nhất là trong bối cảnh tranh chấp biển Đông đang leo thang như hiện nay.
Vào thời điểm hiện tại, ta có thể thấy chỉ có Mỹ mới đủ tiềm lực “khống chế” Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp biển Đông. Tuy nhiên, việc hai nước Trung Quốc và Mỹ liên tục lên tiếng chỉ trích những hành động gây hấn trên biển Đông của nhau trong thời gian qua khiến nhiều người nghĩ tới một kịch bản xấu, có thể là xảy ra chiến lạnh giữa hai ông lớn này. Điều này vô tình lại tạo nên nhiều điều kiện thuận lợi cho Nga trong việc nhảy vào can thiệp ở biển Đông.
Có một câu hỏi khác được đặt ra là liệu Nga có thật sự muốn xâm hại đến những lợi ích song phương to lớn với Trung Quốc khi can thiệp vào biển Đông hay không? Khi mà hiện tại Nga vẫn chưa xác định biển Đông là “lợi ích” gì đối với mình trong khi Mỹ đã rất mạnh bạo tuyên bố biển Đông là “lợi ích quốc gia”. Có thể thấy là dù mối liên quan lợi ích Trung-Nga rất lớn nhưng thật sự thì đây lại là mối quan hệ “bằng mặt không bằng lòng”, vẫn có những lợi ích mâu thuẫn nhau, tạo nên những cơn sóng ngầm. Moscow hiện đang nhìn nhận sự trỗi dậy của Bắc Kinh ở châu Á-Thái Bình Dương với một thái độ nghi ngại, với sự lo sợ về vị thế của mình. Vì vậy dĩ nhiên Nga đang rất muốn đẩy lùi vị thế của Trung Quốc tại tất cả các khu vực mà Nga đang hoặc sẽ có ý định nhảy vào. Vì thế mà Nga cũng sẽ không cam tâm để Trung Quốc qua mặt mình tại biển Đông, nơi đang trở thành điểm nóng quan tâm của cả thế giới.
Dù đang gặp nhiều vấn đề xấu về kinh tế, xã hội trong nước nhưng trên bình diện quốc tế thì Nga vẫn được coi là một cường quốc. Và để chứng minh cho cái gọi là cường quốc của mình thì bắt buộc Nga không được phép mất đi tiếng nói của mình tại những khu vực trọng yếu trên thế giới. biển Đông chính là một trong những khu vực trọng yếu như thế. Thêm vào đó, điều kiện địa lý của Nga rất không thuận lợi làm hạn chế nghiêm trọng sự phát triển sức mạnh trên biển, sức mạnh hải quân của Nga trong những năm gần đây. Phần lớn đường bờ biển thuộc khu vực lạnh giá, trong năm có thời gian đóng băng rất dài, tỷ lệ sử dụng bờ biển tương đối thấp. Khu vực biển Baltic và biển Đen đều có bờ biển ấm áp, có tương đối nhiều cảng không đóng băng, nhưng độ dài của tuyến đường bờ biển không lớn, khó trở thành căn cứ chủ yếu để phát triển quyền kiểm soát biển. Vì thế hơn lúc nào hết, Nga cần thông qua những đồng minh lâu năm của mình như Việt Nam để tìm kiếm ảnh hưởng tại những vùng biển có lợi ích hơn như tại biển Đông.
Hiện việc Trung Quốc liên tục phô trương sức mạnh quân đội cả trên đất liền lẫn trên biển đã khiến các quốc gia láng giềng cảm thấy bất an, tạo ra làn sóng ngầm vũ trang trên toàn khu vực. Điều này tạo cơ hội cho Nga trong việc có thêm một số hợp đồng cung cấp vũ khí. Nếu xét về cơ bản thì làn sóng vũ trang này mục đích chỉ để các nước tìm kiếm sự cân bằng trong quân sự với Trung Quốc chứ không hẳn là để gây nên chiến tranh. Vì thế Nga vẫn có thể vừa bán vũ khí dù là số lượng ít, vừa có thể hành động nhằm giữ cho tình hình biển Đông được ổn định. Đây là một nước cờ “đẹp cả đôi đường” cho cả Nga và tình hình biển Đông hiện tại.
3.               Quan hệ Nga-Mỹ, chiến lược “Trở lại châu Á- Thái Bình Dương” của Mỹ, chính sách “hướng Đông” của Nga và sự chi phối đến chính sách biển Đông của Nga theo hướng cân bằng quyền lực.
Có thể nói rằng quan hệ Nga-Mỹ hiện tại không phải là quan hệ đối đầu do sự đối kháng ý thức hệ chi phối như quan hệ Xô-Mỹ trước đây. Vào thời điểm này, đây vẫn là một trong những cặp quan hệ đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Cả Nga và Mỹ đều là những cường quốc về quân sự, có tầm ảnh hưởng trên thế giới ở nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là vấn đề chính trị, quân sự, an ninh quốc phòng.
Về phía Nga, mối quan hệ với Mỹ luôn được Nga coi là một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất. Xét một cách tổng thể, Nga vẫn cần đến Mỹ nhiều hơn là Mỹ cần Nga. Mặc dù không coi Nga là kẻ thù nhưng Mỹ cũng chưa bao giờ có động thái nào cho thấy quốc gia này coi Nga là đối tác chiến lược.
Trong tất cả các lĩnh vực chính trị - đối ngoại, quân sự - an ninh, kinh tế - thương mại, Mỹ đã không xem Nga như là một đối tác bình đẳng. Sự nghi ngại, dè chừng, cảnh giác vẫn còn là tâm lý tồn tại dai dẳng và khá phổ biến ở cả hai phía. Về cơ bản, trên bình diện quốc tế, Mỹ dường như đang thực hiện một chính sách cân bằng giữa “đối tác chiến lược” và “đối thủ chiến lược” đối với Nga[17].
Sự trỗi dậy của Trung Quốc với những nỗ lực xây dựng chiến lược hoặc trật tự riêng sớm muộn sẽ thách thức quyền lãnh đạo của Mỹ, đe dọa đến vị thế của Nga trên trường chính trường quốc tế. Trong tình hình đó, theo lý thuyết chuyển dịch quyền lực, Mỹ có thể từ bỏ một phần đặc quyền nhưng sẽ không từ bỏ vị trí lãnh đạo thế giới mà xưa nay Mỹ vẫn đang làm rất tốt. Bên cạnh đó, Nga cũng sẽ làm mọi cách để đầy lùi ảnh hưởng của Trung Quốc.
Hiện nay, vai trò và sức mạnh của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương đã suy yếu đáng kể. Sự nổi lên của Trung Quốc càng làm nổi bật sự sa sút của Mỹ, vai trò và tầm quan trọng của Trung Quốc ngày càng được củng cố và tăng cường, ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực này ngày càng sâu đậm bằng những tuyên bố và cách hành xử của chính quyền Bắc Kinh trong suốt thời gian qua tại khu vực biển Đông- Nơi mà chính phủ Trung Quốc đang thực hiện chính sách đi ra ngoài một cách rầm rộ nhất. Đứng trước một Trung Quốc đang trỗi dậy và đang cố gắng gây ảnh hưởng tại khu vực này, Mỹ đã bắt bắt đầu điều chỉnh ngay từ những năm đầu của chính quyền Obama, từng bước định hình cùng với quá trình điều chỉnh lại các ưu tiên đối ngoại quốc gia cũng như chiến lược toàn cầu của Mỹ. Với vai trò là cường quốc biển hàng đầu thế giới, Mỹ đã chủ yếu tiếp cận với châu Á - Thái Bình Dương thông qua con đường hàng hải. Hải quân Mỹ đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển quyền lực của quốc gia. Hạm đội 7 trong Chiến tranh thế giới thứ 2 có một sức mạnh đáng kể, cũng như Chiến tranh Lạnh đã đóng một vai trò quan trọng trong mục tiêu bao vây và cô lập Liên Xô của Mỹ. Hiện nay, trong bối cảnh Trung Quốc đang nổi lên như là một thách thức mới, thì chiến lược toàn cầu của Washington cũng đang thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.
Hiện nay, có thể nói rằng Nga - Mỹ là hai nước lớn trên thế giới có quyền quyết sách hoàn toàn độc lập tự chủ, có chiến lược ngoại giao dài hạn, có ảnh hưởng đặc biệt đến sự phát triển của thế giới. Việc mối quan hệ song phương này tốt hay xấu cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cục diện quốc tế. Bất cứ một vấn đề hay một sân chơi nào đó mà hai nước này tham gia đều sẽ phải chịu sự phụ thuộc rất lớn vào các động thái của chính hai nước này. biển Đông cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Nga luôn muốn khôi phục vị thế siêu cường của mình còn Mỹ thì đang làm mọi cách để duy trì vị thế độc tôn của mình. Mỹ thực hiện chiến lược “trở lại châu Á – Thái Bình Dương” thì Nga cũng tiến hành chính sách “hướng Đông”. Cả hai cường quốc này đều muốn “ra mặt” và tái khẳng định vị trí, vai trò của mình tại khu vực này – nơi được xem lại địa chiến lược của các nước lớn trong thế kỷ 21. Xu hướng cân bằng quyền lực có lẽ là hợp lý nhất để giải thích cho những thay đổi chính sách của Nga tại khu vực biển Đông nói riêng và toàn cầu nói chung.
Tuy nhiên, hai quốc gia này lại đang có cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Về phía Nga, rõ ràng những hành động của nước này có phần thiết thực hơn. Bằng chứng là Nga đã nhiều lần cởi mở với các ý tưởng tiến hành tập trận quân sự chung với Philippines trong lĩnh vực chống cướp biển, tìm kiếm cứu nạn giống như những gì họ đã triển khai với Indonesia hồi đầu năm 2011. Còn về phía Mỹ thì từ khi xảy ra xung đột đến nay, nước này đã rất mạnh dạn bày tỏ quan điểm khi tuyên bố biển Đông là lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, việc can thiệp của Mỹ khi xét về cơ bản thì chỉ là nhằm tăng cường trao đổi qua lại với ASEAN, Nhật Bản và Úc, còn việc ủng hộ ASEAN thì vẫn xoay quanh đồng minh truyền thống là Philippines, việc ủng hộ một số quốc gia khác có tranh chấp với Trung Quốc như Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ dừng lại trên bề mặt ngoại giao.
4.               Dự báo chính sách của Nga tại biển Đông trong thời gian tới và những điều kiện Việt Nam có thể tận dụng trong giải quyết tranh chấp biển Đông.
Qua những phân tích trên, có thể thấy rằng trường hợp Nga chấp nhận khoanh tay đứng nhìn cho mọi căng thẳng leo thang nhằm bán vũ khí trục lợi khó có thể xảy ra. Vì không những cần “miếng”, Nga còn cần “tiếng”. Việc có “miếng” mà không có “tiếng” sẽ tạo nên một hình ảnh không hề tốt đẹp cho cái gọi là “cường quốc” Nga trong con mắt dư luận quốc tế. Vì thế nước này chẳng dại gì mà đánh đổi điều đó với những con số cực hấp dẫn từ việc bán vũ khí khi có xung đột xảy ra. Tuy nhiên, cả Nga và Mỹ đều không muốn các nước có tranh chấp tại khu vực biển Đông lại đi đến cục diện xung đột vũ trang bởi cả hai nước đều có lợi ích cơ bản về tự do hàng hải, thông thương tại khu vực này.
Có thể khẳng định rằng Nga đang thực sự quan tâm và đang tích cực tìm kiếm một vai trò ngày càng lớn hơn tại biển Đông. Những động thái can thiệp một cách tích cực và mạnh bạo hơn là điều hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai gần. Qua hơn 60 năm kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao tính từ thời Liên Xô, có thể nói rằng hai nước Nga-Việt Nam hoàn toàn có thể đưa mối quan hệ này lên một tầm cao mới thông qua chuyến đi của ông Nguyễn Tấn Sang, đặc biệt là khi hai bên sẽ ký một loạt văn kiện hợp tác song phương[18]. Việc nâng tầm hợp tác rõ ràng rất có lợi cho Việt Nam trong tranh chấp biển Đông khi chắc chắn nhờ đó mà Việt Nam sẽ nhận được nhiều sự hậu thuẫn từ Nga-một nước mà Trung Quốc có liên quan nhiều lợi ích lớn. Còn Trung Quốc sẽ phải dè chừng với những hành động ngang ngược của mình khi có sự xuất hiện, can thiệp của Nga. Hay như tuyên bố của Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov trong cuộc trả lời phỏng vấn nhân kỷ niệm 60 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Nga là “Cùng lạc quan nhìn về tương lai quan hệ Việt Nam-Nga”[19].
Về phía Nga sẽ là bước đi mang tính chiến lược khi Nga bắt đầu thực hiện chính sách hướng Đông thông qua Việt Nam. Vị trí và vai trò của Việt Nam trong ASEAN ngày càng được khẳng định, thông qua Việt Nam, Nga sẽ tăng cường hình ảnh và gây ảnh hưởng của mình tại khu vực này mà vốn dĩ là sân sau của Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Thông qua Việt Nam, Nga sẽ có nhiều cơ hội hợp tác cả về kinh tế quân sự lẫn an ninh quốc phòng trong đó có thể kể đến như Philippines, Indonesia chẳng hạn. Sự xuất hiện của khu trục hạm chống tàu ngầm Admiral Panteleyev, tàu chở dầu Boris và tàu cứu hộ Fotiy Krylov tại Philippines vào tháng 2/2012[20] là một minh chứng cho thấy người Nga đang thực hiện chính sách hướng Đông của mình một cách rõ nét.
Trong quá khứ Nga đã duy trì khá tốt ảnh hưởng của mình tại biển Đông trong đó có thể nói Cảng Cam Ranh đã từng là một trong những căn cứ trước đây của Liên Bang Xô Viết thời kỳ chiến tranh Lạnh và đã có trên 10.000 binh lính cùng các thành viên gia đình họ đồn trú tại Cảng Cam Ranh trong thời kỳ quan hệ giữa hai nước Nga - Việt thân thiết nhất[21]. Nhưng do nhiều lý do khác nhau, trong nhiều năm qua, quốc gia này đã hạn chế tầm ảnh hưởng của mình tại đây, chính vì thế Trung Quốc mới có điều kiện ra mặt trực tiếp, rồi sau đó Mỹ là kẻ tiếp theo nhảy vào. Cuộc tranh giành quyền lực và vị thế ở biển Đông đang diễn ra trong bối cảnh tiềm năng quân sự đặc biệt là hải quân của Trung Quốc phát triển tăng tốc và sự cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ nhằm gây ảnh hưởng của mình ở Đông Nam Á, có khả năng không chỉ sẽ phá vỡ sự ổn định trong khu vực. Trước tình hình đó, Nga đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình trong thời gian qua nhằm tạo ra thế chân vạc tại khu vực này từ đó cân bằng quyền lực, vị trí cùng với Mỹ và Trung Quốc. Một chiến lược phù hợp để cân bằng tương quan lực lượng sẽ là một giải pháp tốt cho cả Nga và cho tình hình chung trên biển Đông. Chúng ta hoàn toàn có thể tin vào sự phối hợp Việt Nam - Nga sẽ được tăng cường trong thời gian tới. Việc phối hợp và tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Liên Bang Nga không chỉ là sự kế thừa và phát huy mối quan hệ truyền thống hữu nghị tốt đẹp của hai nước mà còn là sự kết hợp mang tính hiệu quả mang tính cơ học cho cả hai trong thời gian tới. Phía Việt Nam có thể tận dụng sự xuất hiện và chính sách hướng Đông của Nga nhằm mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho tranh chấp biển Đông theo đúng như mong muốn của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế. Ngược lại, thông qua Việt Nam, Nga bắt đầu gây ảnh hưởng mình cả về hợp tác kinh tế, quân sự, hàng hải…. tại  khu vực biển Đông nói riêng và Châu Á Thái Bình Dương nói chung vốn dĩ là “căn cứ” của Liên Xô trước đây. Từng bước xác lập lại trật tự và vị trí của Nga trên vũ đài quốc tế nhằm thực thi thế cân bằng quyền lực tại các khu vực nhạy cảm mà Nga đang quan tâm.















Danh mục tài liệu tham khảo:
1.      TS. Hà Mỹ Hương (2006), Nước Nga trên trường quốc tế: Hôm qua, hôm  nay và ngày mai, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
2.      TS. Nguyễn An Hà (Chủ biên) (2011), Liên Bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ 21, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
3.      A.P. Côchétcốp (2004), Nước Nga trước thềm thế kỷ XXI, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
4.      Nguyễn Quang Thuấn (Chủ biên) (2007), Hướng tới quan hệ hợp tác toàn diện Nga – Asean trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
5.      “Quan hệ Nga – Mỹ trước thềm bầu cử tổng thống Nga”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 043, thứ sáu, 17/02/2012.
6.      “Putin, nước Nga và thế giới”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 069, thứ tư, 14/03/2012.
7.      “Nước Nga thời Putin với những thời cơ và thách thức”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 085, thứ sáu, 30/03/2012.
8.      “Con đường trỗi dậy đầy trắc trở của nước Nga”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 093, chủ nhật, 08/04/2012.
9.      “Triển vọng quan hệ đối tác chiến lược Nga – Trung”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 111, thứ năm, 26/04/2012.
10. “Tổng thống Putin xác định đường hướng phát triển đất nước”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 131, thứ sáu, 18/05/2012.
11. “Đặc trưng và xu thế mới trong quan hệ Trung – Mỹ - Nga hiện nay”, Thông Tấn Xã Việt Nam, số 158, thứ năm, 14/06/2012.
12.  “Cam Ranh – Đệ nhất quân cảng”, Báo Công An Nhân Dân, 06/02/2011, http://antg.cand.com.vn/vi-vn/phongsu/2011/1/74338.cand
13. “Biển Đông: Liệu “gấu” Nga sẽ “vỗ ngực xưng tên”, Tuanvietnam.net, 08/06/2012, http://tuanvietnam.net/2012-06-05-bien-dong-lieu-gau-Nga-se-vo-nguc-xung-ten-
14. “Lần đầu tiên Nga lên tiếng về tình hình biển Đông”, VOV online - Đài tiếng nói Việt Nam, 21/05/2012, http://vov.vn/The-gioi/Lan-dau-tien-Nga-len-tieng-ve-tinh-hinh-Bien-Dong/210053.vov
15. “Tính toán của Nga ở biển Đông?”, BBC Vietnamese, 19/04/2012, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/04/120419_russia_scs_interests.shtml
16. “Mỹ sẽ điều 60% tàu hải quân đến Thái Bình Dương”, VnExpress, 02/06/2012, http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2012/06/my-se-dieu-60-tau-hai-quan-den-thai-binh-duong/
17. “Trung Quốc gây hấn để quên mâu thuẫn nội bộ?”, BBC Vietnamese, 18/07/2012, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120718_russia_viet_china.shtml
18. “Chủ tịch Trương Tấn Sang sắp thăm Nga”, BBC Vietnamese , 22/07/2012, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120722_sang_to_visit_russia.shtml
19. “Báo chí Nga đưa tin chuyến thăm của Chủ tịc nước”, VBA Vietnamese , 21/07/2012, http://hoidoanhnghiep.ru/vietnamese/News/16160/Bao-chi-Nga-dua-tin-chuyen-tham-cua-Chu-tich-nuoc.html
20. “Phỏng vấn Ngoại trưởng Nga nhân kỉ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại guao Việt Nam-Nga”, VBA Vietnamese , 25/01/2010, http://hoidoanhnghiep.ru/vietnamese/News/5137/Phong-van-Ngoai-truong-Nga-nhan-ky-niem-60-nam-thiet-lap-quan-he-ngoai-giao-VN-LB-Nga.html
21. Hải quân của Nga tăng cường sự xuất hiện tại biển Đông, Phunutoday, 04/06/2012,  http://phunutoday.vn/xa-hoi/quoc-phong/201206/Hai-quan-Nga-tang-cuong-xuat-hien-tai-bien-dong-2160883/
22. Putin tìm kiếm quá khứ của Liên Xô qua chiến lược biển Đông, 25/4/2012 http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2553-putin-tim-kiem-qua-khu-cua-lien-xo




[1] Huỳnh Hồ Đại Nghĩa hiện là sinh viên năm 4, chuyên ngành Chính trị quốc tế tại Khoa Quan Hệ Quốc Tế, Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TP. Hồ Chí Minh. Email: Dinkhuynh@gmail.com. Sđt: 0906.977.756
[2] Đây là ngày Tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga đã nhận lời tham gia dự án khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ở biển Đông với Việt Nam.
[3] Từ năm 1979, theo hiệp định được ký kết giữa Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Xô, cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần, tên gọi đầy đủ là Điểm cung cấp vật liệu - kỹ thuật số 922 (PMTO) của Hạm đội Thái Bình Dương với diện tích khoảng 100 km2 trong thời hạn 25 năm, phục vụ một đơn vị thường trực chiến đấu mang tên Liên đội tàu chiến đấu số 17 của Hạm đội Thái Bình Dương.
[4] “Cam Ranh – Đệ nhất quân cảng”, Báo Công An Nhân Dân, 06/02/2011, http://antg.cand.com.vn/vi-vn/phongsu/2011/1/74338.cand
[5] Lần đầu tiên Tổng thống V. Putin viếng thăm Việt Nam là vào tháng 3/2001.
[6] TS. Hà Mỹ Hương (2006), Nước Nga trên trường quốc tế: Hôm qua, hôm  nay và ngày mai, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 292-293.

[7] Biển Đông: Liệu “gấu” Nga sẽ “vỗ ngực xưng tên”, Tuanvietnam.net, 08/06/2012, http://tuanvietnam.net/2012-06-05-bien-dong-lieu-gau-Nga-se-vo-nguc-xung-ten-
[8]“Lần đầu tiên Nga lên tiếng về tình hình biển Đông”, VOV online - Đài tiếng nói Việt Nam, 21/05/2012, http://vov.vn/The-gioi/Lan-dau-tien-Nga-len-tieng-ve-tinh-hinh-Bien-Dong/210053.vov

[9] “Tính toán của Nga ở biển Đông?”, BBC Vietnamese, 19/04/2012, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/04/120419_russia_scs_interests.shtml


[10] “Mỹ sẽ điều 60% tàu hải quân đến Thái Bình Dương”, VnExpress, 02/06/2012, http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2012/06/my-se-dieu-60-tau-hai-quan-den-thai-binh-duong/
[11] “Trung Quốc gây hấn để quên mâu thuẫn nội bộ?”, BBC Vietnamese, 18/07/2012, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120718_russia_viet_china.shtml
[12] “Chủ tịch Trương Tấn Sang sắp thăm Nga”, BBC Vietnamese , 22/07/2012, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120722_sang_to_visit_russia.shtml
[13] Số đã dẫn như trên .
[14] Số đã dẫn như trên.
[15] Số đã dẫn như trên.
[16] Biển Đông: Liệu “gấu” Nga sẽ “vỗ ngực xưng tên”, Tuanvietnam.net, 08/06/2012, http://tuanvietnam.net/2012-06-05-bien-dong-lieu-gau-Nga-se-vo-nguc-xung-ten-

[17] TS. Hà Mỹ Hương (2006), Nước Nga trên trường quốc tế: Hôm qua, hôm  nay và ngày mai, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 300.
[18] “Báo chí Nga đưa tin chuyến thăm của Chủ tịc nước”, VBA Vietnamese , 21/07/2012, http://hoidoanhnghiep.ru/vietnamese/News/16160/Bao-chi-Nga-dua-tin-chuyen-tham-cua-Chu-tich-nuoc.html

[19] “Phỏng vấn Ngoại trưởng Nga nhân kỉ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nga”, VBA Vietnamese , 25/01/2010, http://hoidoanhnghiep.ru/vietnamese/News/5137/Phong-van-Ngoai-truong-Nga-nhan-ky-niem-60-nam-thiet-lap-quan-he-ngoai-giao-VN-LB-Nga.html

[20] Hải quân của Nga tăng cường sự xuất hiện tại biển Đông, Phunutoday, 04/06/2012,  http://phunutoday.vn/xa-hoi/quoc-phong/201206/Hai-quan-Nga-tang-cuong-xuat-hien-tai-bien-dong-2160883/
[21] Putin tìm kiếm quá khứ của Liên Xô qua chiến lược biển Đông, 25/4/2012

Giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế


Giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp tất yếu giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Lịch sử 82 năm từ khi thành lập và 67 năm liên tục ở vị trí cầm quyền và duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định là “nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”[1].
Nhận thức đúng đắn về năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, những điều kiện đảm bảo và những nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cầm quyền của Đảng để từ đó có giải pháp nâng  cao và tăng cường năng lực cầm quyền của đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần phát triển lý luận về đảng cầm quyền ở nước ta.
Cho tới nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về năng lực cầm quyền của đảng, song một cách khái quát có thể xem: Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là tổng hòa những phẩm chất, tri thức, kinh nghiệm, phương thức, phương pháp lãnh đạo của Đảng tạo thành sức mạnh, uy tín giúp Đảng có thể tập hợp lực lượng, đáu tranh giành chính quyền và tổ chức thực hiện thành công lý tưởng, mục tiêu chính trị, củng cố địa vị cầm quyền của Đảng.[2]
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp với nhiều thách thức khó lường, để Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, củng cố địa vị và nâng cao năng lực cầm quyền, thiết nghĩ cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: .
Trước hết, Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam  là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Thiếu bản lĩnh chính trị, xa rời bản chất giai cấp công nhân, Đảng dễ bị sai lầm, chệch hướng, khó vượt qua thử thách, trở ngại để đi tới thành công. Đảng phải nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu những kinh nghiệm, tri thức của nhân loại, tham khảo kinh nghiệm các Đảng Cộng sản trên thế giới để áp dụng vào thực tiễn cách mạng nước ta. Biểu hiện cụ thể ở việc hiểu sâu sắc về bản chất cách mạng và khoa học, phương pháp luận, nắm vững tinh thần, lập trường, quan điểm  của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không phải là thuộc lòng các câu chữ trong các tác phẩm kinh điển.
Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mọi hoạt động gây chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết, buông lỏng kỷ luật đều dẫn tới nguy cơ làm mất bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
 Tăng cường thành phần công nhân trong Đảng, trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Cấp ủy, cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp  tiêu biểu cho bản lĩnh chính trị của Đảng và của mỗi tổ chức Đảng. Do vậy phải tăng cường giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, quan điểm của giai cấp công nhân và truyền thống tốt đẹp của dân tộc  cho cấp ủy các cấp và cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, tranh quyền, ham tiền, vụ lợi. Xây dựng cấp ủy các cấp thực hiện tốt vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị vững vàng.
Thứ hai, nâng tầm trí tuệ, không ngừng phát triển tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng
Tầm trí tuệ của Đảng chính là trình độ trí tuệ của Đảng gắn với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, là sự kết hợp chặt chẽ của bốn yếu tố: năng lực tư duy, tri thức tích lũy được, sự sáng tạo phát hiện ra cái mới, sự vận dụng các yếu tố của trí tuệ vào cuộc sống. Nâng tầm trí tuệ của Đảng, trình độ lý luận của Đảng là phương thức hiệu quả nhất để khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí. Đảng ta cần quan tâm tập trung một số nội dung sau:
Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh  về đảng, chống lại những quan điểm bôi nhọ, những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan tâm tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm, thành công và không thành công từ thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta cũng như các Đảng Cộng sản trên thế giới để bổ sung, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình cầm quyền của Đảng ta, từ đó tìm ra bản chất, quy luật vận động cơ bản của thực tiễn cách mạng nước ta trong thời kỳ đổi mới. Mặt khác, đấu tranh chống biểu hiện bảo thủ, giáo điều khi vận dụng lý luận vào thực tiễn. Kịp thời thay đổi những chủ trương, chính sách không phù hợp.
Phát huy tiềm năng, sáng tạo trong công tác nghiên cứu lý luận, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ nghiên cứu, các Viện nghiên cứu trong công tác nghiên cứu lý luận của Đảng. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lý luận của Đảng trong đó trọng tâm là nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về CNXH, con đường đi lên CNXH ở nước ta và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới như mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện toàn cầu hóa …
 Nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo xu thế khách quan của sự phát triển xã hội, của thế giới và khu vực, những nhân tố ảnh hưởng, tác động tới sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong những thập niên tới. Đổi mới và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp không những giỏi trong chỉ đạo thực tiễn mà còn có tư duy lý luận độc lập, sáng tạo, có tầm nhìn xa trông rộng, chủ động triển khai có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của đảng trong thực tiễn.
Thứ ba, đổi mới, chỉnh đốn Đảng  đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới
Đổi mới, chỉnh đốn  là việc Đảng quyết tâm từ bỏ những lạc hậu, lỗi thời, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, giữ vững và tăng cường mối liên hệ máu thịt với nhân dân, vững vàng trước mọi thử thách, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi. Đây là bài học lớn nhất, cũng là vấn đề sống còn, có quan hệ đến sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước và vận mệnh của bản thân Đảng. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng phải bắt đầu từ việc thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng, đảm bảo cho Đảng có tổ chức chặt chẽ, đoàn kết thống nhất và có sức chiến đấu cao. Xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, đảng sẽ mất quyền lãnh đạo, bị suy yếu nhanh chóng, thậm chí biến chất và tan rã. Do vậy, phải kịp thời bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy trình để đảng viên được tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, thực hiện dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Có cơ chế để cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của đảng viên, cán bộ dưới quyền, kể cả những ý kiến trái chiều; trong những trường hợp cần thiết cần tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các trung tâm, viện nghiên cứu trước khi đưa ra quyết định. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện kèn cựa, tranh giành địa vị, lợi lộc, cục bộ, bản vị.
Đổi mới, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cấp thiết phải phòng chống nguy cơ thoái hóa, biến chất, tự diễn biến từ trong nội bộ Đảng. Hồ Chí Minh coi mỗi sai lầm, khuyết điểm như một chứng bệnh, là kẻ địch từ bên trong phát hoại Đảng, như “ giặc ở trong lòng”. Do vậy, Đảng cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Đảng, chính quyền; hoàn thiện hệ thống pháp luật, các quy định của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tham nhũng; phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội trong xây dựng Đảng và Nhà nước.
Cấp ủy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp cần nêu gương trong việc rèn luyện về đạo đức lối sống, giữ gìn bản thân trong sạch, trong sáng; kiên quyết chống lại các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, các hiện tượng tiêu cực, khắc phục hiện tượng nể nang, “dĩ hòa vi quý”. Đảng và Nhà nước cần có các biện pháp xử lý kịp thời và nghiêm minh những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, bất kể là ai, bất kể ở cương vị nào. Chống suy thoái bên trong phải đi đôi với phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, chống đối nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta và chế độ XHCN ở nước ta. 
Thứ tư, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trọng tâm là phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Lãnh đạo bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước là một trong những phương thức cầm quyền chủ yếu của Đảng. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước mà phải có cơ chế phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước phải được triển khai toàn diện trên các mặt  lập pháp, hành pháp, tư pháp; trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với các cấp tương ứng của Nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước  trong giai đoạn hiện nay phải trên cơ sở quán triệt những quan điểm: Đảng là người lãnh đạo, Nhà nước là người quản lý, nhân dân là người làm chủ; Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật, Đảng không đứng trên Nhà nước, trên pháp luật; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, đồng thời xây dựng một nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động chủ động, năng động, có hiệu lực, hiệu quả, và nhân dân được thực sự làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước phải đảm bảo theo những nguyên tắc: Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng không điều hành xã hội thay Nhà nước; Nhà nước điều hành xã hội, nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp chặt chẽ  đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng và Nhà nước, đổi mới phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng  trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi chúng ta phải quan tâm xây dựng và thực hiện tốt Quy chế làm việc của các tổ chức Đảng, tiếp tục thể chế hóa trong hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ giữa Đảng với các tổ chức trong hệ thống chính trị, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra việc cụ thể hóa, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nâng cao năng lực của cấp ủy các cấp; thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, trong toàn xã hội.
Thứ năm, đổi mới công tác tổ chức, công tác cán bộ trọng tâm là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp
Công tác tổ chức và cán bộ là hai nội dung trọng tâm trong nhiệm vụ đổi mới Đảng về tổ chức. Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới Đảng về tổ chức  đòi hỏi phải tập trung lãnh đạo tiếp tục kiện toàn tổ chức của Đảng các cấp trọng tâm là tổ chức cơ sở Đảng, phân định rõ bộ máy tổ chức Đảng với tổ chức của Nhà nước cả về quy mô và chức năng, nhiệm vụ. Cụ thể hóa cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; các quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng; mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu.
Đổi mới về tổ chức phải gắn kết chặt chẽ với đổi mới công tác cán bộ. Những yếu kém, sai lầm, khuyết điểm trong công tác cán bộ là một trong những nguyên nhân chủ yếu đã dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Do vậy, Đảng phải quan tâm xây dựng một đội ngũ cán bộ có tầm trí tuệ, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, được bố trí, sử dụng đúng để  đường lối đổi mới của Đảng đi vào cuộc sống và không ngừng được bổ sung, phát triển. Đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt các cấp  phải vững vàng về tư tưởng chính trị, lành mạnh về đạo đức lối sống, đủ bản lĩnh trong kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế  thế giới... Đổi mới công tác cán bộ nhất là đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp ở nước ta hiện nay cần chú ý một số định hướng :
Đổi mới công tác cán bộ là trách nhiệm của toàn Đảng, các tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo các cấp. Đổi mới phải trên cơ sở phương châm dân chủ, công khai, minh bạch, có tầm chiến lược, tầm nhìn dài hạn trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt. Tránh quan liêu, cửa quyền trong việc lựa chọn, bố trí cán bộ; quan niệm đẳng cấp, chủ nghĩa cá nhân, đầu óc địa vị, tư lợi,  cục bộ, địa phương...
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm giai cấp  trong công tác cán bộ, phải đặc biệt quan tâm trẻ hóa đội ngũ cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận có tâm, có tầm, có tài cho Đảng, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển trong đội ngũ cán bộ; trọng dụng nhân tài cho sự phát triển đất nước. Cụ thể hóa những tiêu chuẩn đối với cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt, lãnh đạo quản lý các cấp trên cơ sở chức danh, cương vị công tác ( quan tâm những tiêu chuẩn hiện nay mới dừng lại ở định tính).
Tiếp tục hoàn thiện quy chế, quy trình lựa chọn, đánh giá, đề bạt, điều động cán bộ, nâng cao chất lượng quản lý cán bộ. Thực hiện chủ trương của Đảng và Quốc hội khóa XIII ( kỳ họp thứ tư) về lấy phiếu tín nhiệm đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt đảm bảo thực chất.
Thứ sáu, xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực hiệu quả
Chế độ một đảng duy nhất cầm quyền đảm bảo cho Đảng không có sự cạnh tranh quyền lực. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức đối với Đảng ta do nguy cơ sự tha hóa quyền lực mà biểu hiện cụ thể là sự độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng. Chính vì vậy, để củng cố vị trí và nâng cao năng lực cầm quyền, Đảng phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả.
Trước hết, cần quan tâm đến việc tự kiểm soát  trong nội bộ Đảng. Phát huy vai trò, năng lực kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với tổ chức đảng và đảng viên, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện mơ hồ, dao động, những việc làm không đúng quy định Điều lệ Đảng, các quy chế, quy định của Đảng. Coi trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình liên quan đến các khâu của công tác cán bộ, do đây là việc làm phức tạp, nhạy cảm, dễ sinh ra các hiện tượng tiêu cực, chạy chức, chạy quyền, không đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ, từ đó dẫn đến giảm sút năng lực lãnh đạo , cầm quyền của Đảng.
Bên cạnh đó, cần xây  dựng cơ chế và phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị-xã hội và quần chúng nhân dân trong giám sát và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, hoạt động của tổ chức Đảng, nhà nước và cán bộ, đảng viên nhất là đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải trở thành các lực lượng nòng cốt giám sát việc việc thực hiện chính sách của Đảng, phản biện đối với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên nền tảng đối thoại dân chủ. Đảm bảo những chủ trương, chính sách của Đảng trước khi thông qua phải có ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể; Kịp thời phản ánh, góp ý với Đảng những vấn đề từ thực tiễn cuộc sống để Đảng và nhà nước kịp thời điều chỉnh các chính sách, chủ trương, điều chỉnh trong triển khai thực hiện. Quan tâm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ  Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.Khi tiếp nhận ý kiến còn có vấn đề khác nhau, Đảng cần tổ chức trao đổi, thảo luận với Mặt trận và các đoàn thể để đi tới thống nhất.
Cùng với tự kiểm soát của hệ thống chính trị, Đảng phải có cơ chế phát huy vai trò giám sát, phát hiện vấn đề của các tầng lớp nhân dân; Thực sự tôn trọng lắng nghe ý kiến từ nhân dân; tiếp tục hoàn thiện những quy định của Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở. Có cơ chế để thẩm tra, xác minh những ý kiến phản ánh của nhân dân để Đảng tự soi lại các chủ trương, chính sách. Tự do, dân chủ, công khai trong bầu cử để lôi cuốn đông đảo nhân dân thực sự tham gia vào đời sống chính trị và lựa chọn đúng ngườiđại diện cho mình. Những chính sách có liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân như: xây dựng các công trình công cộng, giao thông, phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, di dân và tái định cư … phải có tổ chức hoặc đại biểu của nhân dân giám sát quá trình ra chính sách, thực thi chính sách và kiểm tra đánh giá chính sách. Mở rộng thực hiện các loại hình dân chủ trực tiếp như: Trưng cầu ý dân; triển khai có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở. Nghiên cứu quy định về trưng cầu dân ý, lấy phiếu tín nhiệm của nhân dân theo định kỳ đối với các chức danh lãnh đạo chủ chốt do dân bầu ra.
Đảng ta là đảng cầm quyền. Trải qua biết bao thử thách, nhân dân đã tin Đảng, trao cho Đảng vai trò dẫn dắt sự phát triển của đất nước, của dân tộc, bởi Đảng không có mục đích nào khác ngoài quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, năng lực cầm quyền và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề luôn mới bởi những những điều kiện cụ thể và nhân tố ảnh hưởng luôn có sự thay đổi. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, là giải pháp quan trọng củng cố vị trí cầm quyền của Đảng, khẳng định sức sống mãnh liệt của CNXH.
  Lê Kim Anh
                Hội Liên Hiệp Phụ nữ TP Hà Nội
       
----------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H.
2. Đặng Xuân Kỳ, Mạch Quang Thắng, Nguyễn Văn Hoà ( đồng chủ biên) (2005), Một số vấn đề về xây dựng Đảng hiện nay, Nxb CTQG, H.
3. Học viện Báo chí và Tuyên truyền –FES (2009), Chính trị và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CT-HC, H.
4. Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2011), Đảng Cộng sản cầm quyền, nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, Nxb CTQG, H.
5. Đỗ Hoài Nam (chủ biên) (2008), Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới, Nxb CTQG, H.
6. Dương Xuân Ngọc (2005), Vận dụng tư tưởng của Lênin về Đảng cầm quyền vào công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí lý luận chính trị, số 6
7. Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (đồng chủ biên) (2004), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, Nxb CTQG, H.
8. Nguyễn Phú Trọng (2005), Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, Nxb CTQG, H


[1]  Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H.

[2] Lý Tuấn Vũ ( Trung Quốc) cho rằng: Năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc là bản lĩnh của Đảng đề ra và vận dụng lý luận, đường lối, phương châm, chính sách và sách luợc đúng đắn, lãnh đạo xây dựng và thực hiện hiến pháp và pháp luật, áp dụng chế độ lãnh đạo và phương thức lãnh đạo khoa học, động viên và tổ chức nhân dân quản lý công việc của nhà nước và xã hội, sự nghiệp kinh tế và văn hóa theo pháp luật, xây dựng đảng lãnh đạo đất nước và quân đội có hiệu quả, xây dựng đất nước hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa- Học viện Báo chí và Tuyên truyền –FES (2009), Chính trị và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CT-HC, H, .tr 720
Học viện Báo chí & Tuyên truyền

Khái lược lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại


Khái lược lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại

Học viện Báo chí - Tuyên truyền Hà Nội
Khái lược lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại
Hệ thống quan hệ quốc tế là một thuật ngữ miêu tả quyền lực quốc tế trên hành tinh theo trật tự chính trị của các chủ thể (trước hết và cơ bản nhất là các quốc gia – dân tộc), là môi trường quốc tế có luật chơi nhất định buộc các chủ thể muốn tồn tại phải tuân thủ và phối hợp hành động.
Cho đến nay, lịch sử nhân loại đặc biệt lịch sử thế giới hiện đại đã chứng kiến nhiều loại hệ thống quan hệ quốc tế khác nhau thể hiện tính biến động hết sức phức tạp của đời sống quốc tế.
1. Nhận thức chung về hệ thống quan hệ quốc tế
Hiểu một cách đơn giản hệ thống quan hệ quốc tế là tập hợp các chủ thể quan hệ quốc tế và mối quan hệ qua lại giữa chúng khi tham gia vào đời sống quốc tế theo một cấu trúc nhất định. Như vậy, nội hàm của hệ thống quan hệ quốc tế bao gồm: chủ thể và cấu trúc quyền lực thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể. Theo đó, chủ thể của hệ thống quan hệ quốc tế phải là những nhân tố tham gia trực tiếp vào các mối quan hệ quốc tế, có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế và tác động tới sự phát triển của đời sống quan hệ quốc tế. Do tính phức tạp của quan hệ quốc tế nên các hệ thống khác nhau thì có những chủ thể khác nhau. Nhưng nhìn chung quốc gia - dân tộc là chủ thể cơ bản, đầy đủ và quan trọng nhất trong mọi hệ thống. Còn cấu trúc của hệ thống quan hệ quốc tế được cho là sự phối hợp đồng bộ (sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định tạo thành trật tự thế giới) giữa các thành tố (các chủ thể) của hệ thống dựa trên sự phân bổ quyền lực. Xét về bản chất, cấu trúc của hệ thống phụ thuộc vào việc duy trì cân bằng quyền lực giữa các chủ thể chính –những trung tâm quyền lực (gọi là những chủ thể chi phối trật tự) có vai trò như một cực trong cấu trúc hệ thống. ‘‘Cực” ở đây không nên hiểu theo nghĩa “cực” đối kháng, đối đầu theo hướng loại trừ nhau mà hiểu một cách đơn giản đó là vị trí cấu thành nên trật tự cấu trúc của một hệ thống do một trung tâm quyền lực chiếm hữu. Đơn giản hơn, “cực” nghĩa là “trung tâm quyền lực”.
Để tìm hiểu về cấu trúc hệ thống quan hệ quốc tế, có thể tìm hiểu ở hai vấn đề: số lượng cực và mô hình cấu trúc trong hệ thống (cách thức sắp xếp trật tự theo mô hình nhất định).
Số lượng cực của hệ thống
Có nhiều nhà phân tích tin rằng yếu tố quyết định nòng cốt cho sự tồn tại và hoạt động bất kỳ hệ thống nào đó là số lượng cực quyền lực của hệ thống. Tiếp cận một cách truyền thống, một cực của hệ thống phải là một quốc gia đơn độc hoặc một đế chế. Tuy nhiên, trong các hệ thống hiện đại một cực của hệ thống còn được hiểu là một nhóm các quốc gia hình thành một liên minh hay một khối. Đó có thể là một tổ chức liên chính phủ (IGO) toàn cầu như UN hoặc IGO khu vực như EU với điều kiện là các tổ chức này phải có đủ quyền lực và sự phụ thuộc ở mức độ nhất định từ các quốc gia thành viên của chúng.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế đã từng tồn tại các loại hình trật tự thế giới với số lượng cực khác nhau sau:
Trật tự thế giới đơn cực (có một cực) là một trật tự mà ở đó có một siêu cường duy nhất có sức mạnh vượt trội và tự mình có thể quyết định tất cả các vấn đề quốc tế mà các quốc gia còn lại dù có hợp lại cũng không thể ngăn cản được siêu cường đó. Nếu xét trên phương diện khu vực thì trong lịch sử quan hệ quốc tế đã tồn tại trật tự 1 cực đó là thời kỳ đế chế La Mã ở Á – Âu, đó là đế chế Mông Cổ thế kỷ thứ 11 ở Á – Âu, là Trung Quốc ở Đông Á… Nguyên tắc trong trật tự một cực là cực duy nhất chi phối toàn bộ đời sống quốc tế.
Trật tự thế giới hai cực: là trật tự có hai siêu cường dẫn đầu hai liên minh tranh giành ảnh hưởng đối với các nước trung lập. Trong lịch sử loài người, trật tự trong hệ thống Yanta là ví dụ sống động cho loại trật tự này. Hai cực là Liên Xô và Mỹ với nguyên tắc trong trật tự đó là: cạnh tranh và đối đầu giữa hai cực.
Trật tự thế giới đa cực: là trật tự có ít nhất từ ba cường quốc trở lên, có sức mạnh tương đương nhau. Nguyên tắc là đấu tranh và hợp tác để giải quyết các vấn đề chung dưới nhiều hình thức khác nhau. Cho đến nay, trật tự thế giới đa cực đã tồn tại ở những thời điểm khác nhau trong đời sống quốc tế. Có thể lấy ví dụ trật tự gần đây nhất là Versaille – Washington được thiết lập sau Thế chiến thứ nhất và tồn tại ngắn ngủi giữa hai cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử loài người tính đến năm 2011 (1919 – 1939).
Về mô hình cấu trúc quyền lực
Tương ứng với từng dạng trật tự có số lượng cực khác nhau là các mô hình cấu trúc khác nhau. Đã có nhiều mô hình được đưa ra nhưng có lẽ mô hình cấu trúc quyền lực các hệ thống đã tồn tại trong lịch sử quan hệ quốc tế của John T. Rourke và Mark A. Boyer trong cuốn “World Politics – international politics on the world stage, Brief”, được mô tả một cách đơn giản và hợp lý hơn cả.
Mô hình cấu trúc quyền lực một cực: các luật chơi là (1) Cường quốc (nhân tố) trung tâm thiết lập và thực thi các quy định và thống trị quân đội cùng các công cụ kinh tế. (2) Cường quốc trung tâm giải quyết các tranh chấp giữa các nhân tố phụ, (3) Cường quốc trung tâm chống lại mọi cố gắng của các nhân tố phụ để đạt được sự độc lập hoặc quyền tự trị lớn hơn và có thể cố gắng làm giảm hoặc tiêu diệt quyền tự trị của các nhân tố phụ
Mô hình cấu trúc quyền lực hai cực: Sự thù địch gay gắt giữa hai cực là vấn đề trung tâm của hệ thống hai cực. Vì thế luật chơi là (1) có gắng xóa bỏ khối khác bằng cách làm xói mòn nó hoặc tấn công tùy từng tính huống cụ thể; (2) tăng cường sức mạnh trong tương quan với khối còn lại bằng cách cố gắng kết nạp những thành viên mới vào khối của mình hay cố gắng ngăn chặn các nước khác gia nhập khối thù địch.
 




Mô hình cấu trúc quyền lực đa cực: Luật chơi là: (1) Chống lại bất cứ một chủ thể nào hoặc liên minh nào có thể có nguy cơ trở thành lãnh đạo. Điều này cũng là nguyên tắc trung tâm của chính trị cân bằng quyền lực. (2) tốt nhất là tăng cường sức mạnh và tối đa việc duy trì sức mạnh có thể bằng cách thương lượng, nhưng cũng có thể bằng cách chiến tranh. (3) nếu xảy ra chiến tranh thì điều kiện là không được ổn định hóa hệ thống bằng cách phá hủy các nhân tố chủ yếu khác.
Những mô hình này[1] là những mô hình thể hiện cơ bản nhất những cấu trúc của các loại hệ thống quan hệ quốc tế. Tuy nhiên trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, do tính phức tạp và biến đổi khó lường – vốn là đặc tính cố hữu trong quan hệ quốc tế nên mô hình cấu trúc của các hệ thống quan hệ quốc tế có sự linh hoạt về quy mô và mức độ. Chẳng hạn như cùng là mô hình đa cực nhưng mô hình đa cực trong hệ thống Vienne (sau 1615) khác với mô hình đa cực trong hệ thống Versaille – Washington (từ 1919 – 1939) về tính cân bằng trong sức mạnh của các cực (các trung tâm quyền lực) và tính công bằng trong luật chơi và mức độ tham gia xử lý công việc quốc tế của các chủ thể…
2. Các hệ thống quan hệ quốc tế trong lịch sử hiện đại.
Hệ thống quan hệ quốc tế được biết đến đầu tiên theo đúng nghĩa trong lịch sử hiện đại là Hệ thống Westphalia ra đời gắn liền với Hòa ước Westphalia (1648) và cuộc chiến tranh 30 năm. Cuộc chiến tranh 30 năm là một cuộc chiến được bắt đầu từ trung tâm Châu Âu. Cuộc chiến này đã khuấy động châu Âu trong suốt nửa đầu thế kỷ 17 thể hiện sự mâu thuẫn giữa tôn giáo và phong kiến về việc chia cắt lãnh thổ, ngôn ngữ và sắc tộc. Những ganh đua, cạnh tranh giữa người theo đạo Tin lành và Thiên chúa giáo với những mưu tính của triều đại Hapsburg đã kích động một cuộc chiến tranh ở diện rộng liên quan đến nhiều quốc gia như  Pháp, Anh, Scotlen, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Ý và Đức. Một mặt, các triều đại gia đình Thiên chúa giáo đặc biệt là Hapsburgs (triều đại này thiết lập luật ở hầu những những vùng đất ngày nay là Áo, Séc và Hungary) thiết lập liên minh giữa bản thân nó với Tây Ban Nha và với Đức Giáo hoàng ở Rome. Mặt khác, những ông hoàng theo đạo Tin lành ở Đức lại hình thành liên minh với Anh, Hà Lan và triều đình Pháp theo đạo Tin lành. Xung đột trở thành chiến tranh với sự tàn bạo và nguy hiểm khủng khiếp lớn hơn rất nhiều những cuộc chiến trong thời kỳ phong kiến ở châu Âu trước đó và mức độ hủy diệt cũng sự tàn sát được đánh giá là chỉ kém hai cuộc chiến tranh thế giới của thế kỷ 20 sau đó mà thôi. Hòa ước Westphalia, đã làm cho châu Âu có nhiều đặc điểm mới (cho ra đời một loạt các quốc gia mới – chủ thể quan trọng của quan hệ quốc tế bằng cách tách hoặc sát nhập các quốc gia) và hình thành nên một hệ thống mới trong quan hệ quốc tế. Đó là một hệ thống cân bằng quyền lực giữa các quốc gia. Tồn tại hơn 2 thế kỷ, các triều đại phong kiến hay liên minh tôn giáo hoặc dân tộc của các quốc gia cũ và mới của hệ thống được hình thành và làm xói mòn quyền lực của tôn giáo và phát triển vai trò của quốc gia dân tộc làm cho quốc gia có được quyền lực lớn hơn.
Tuy nhiên, hệ thống Westphalia là hệ thống chứa đựng nhiều cuộc chiến tranh, có thể nói từ 1648 tới kỷ nguyên Napoleon, cuộc chiến tranh ở phần lớn khu vực Tây Âu là cuộc chiến được đặt lên trên cùng trong xã hội. Đó là cuộc cạnh tranh liên quan tới các triều đại phong kiến để đặt cược cái được gọi là đáp ứng những nhu cầu của triều đại (lãnh thổ và cơ hội giành tài sản). Có thể không quá cường điệu khi cho rằng chiến tranh châu Âu trong suốt thời kỳ này được ví như một trò thể thao của các vị vua. Sau nhiều cuộc chiến tranh Châu Âu lại chứng kiến sự lớn mạnh của một chủ thể vốn là một cực trong hệ thống đó là Pháp. Pháp lớn mạnh với sự xuất hiện và lớn mạnh của Napoleon  Bonaparte cùng tham vọng thống trị châu Âu và thế giới. Châu Âu một lần nữa chìm trong chiến tranh. Hệ thống bị phá vỡ. Cho đến khi Napoleon Bonaparte bị thua trong trận chiến Waterloo năm 1815. Hệ thống mới được hình thành. Hệ thống Viên gắn liền với Hội nghị tại Viên sau cuộc chiến tranh chống Napoleon. Đó là một hệ thống đa cực hòa hợp quyền lực ở châu Âu giữa các cường quốc châu Âu là Anh, Nga, Đức, Pháp. Trong suốt khoảng một thế kỷ, châu Âu đã luôn thích thú với mục tiêu thống trị toàn cầu. Các quốc gia lãnh đạo châu Âu mở rộng sự kiểm soát của mình đối với hầu hết các khu vực trên thế giới, đạt được sự thống trị về kinh tế và công nghệ và phát triển lực lượng quân sự mạnh nhất.
Trong thập niên của cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, cùng với sự trung tâm hóa sức mạnh quốc gia và sự tăng trưởng mạnh mẽ sức mạnh quân sự và thương mại lại càng được phát triển bởi cách mạng công nghiệp, Châu Âu dường như ở đỉnh cao của thịnh vượng và ảnh hưởng. Nhưng nền tảng cơ bản của sự thay đổi sâu sắc đã đang được hình thành. Điều này tập trung ở Đức. Những vùng đất nói tiếng Đức đã được chia thành rất nhiều các lãnh địa khác nhau. Tuy nhiên, vào năm 1871, Otto von Bismarck, Toàn quyền của Phổ - vùng lãnh thổ có quyền lực lớn nhất và có sức mạnh quân sự lớn nhất trong các khu vực của Đức đã hợp nhất các khu vực nói tiếng Đức (ngoại trừ Áo) của châu Âu lại. Ông ta đã đạt được điều này thông qua sự vận động chính trị khéo léo và một loạt các cuộc chiến tranh hạn chế chống lại Đan Mạch, Áo và Pháp. Bismarck vì thế đã tạo ra được một quốc gia đông dân nhất, có nền kinh tế phát triển và có sức mạnh quân sự lớn nhất ở khu vực Tây và Trung Âu. Từ thời điểm nước Đức thông nhất cho đến khi nổ ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914, sức mạnh của Đức nhanh chóng lan rộng đến các nước láng giềng. Ví dụ, dân số của nó tăng từ 40 triệu lên tới 65 triệu  người làm cho vị trí của nó đứng cách xa với các cường quốc khác  như Áo – Hung, Anh và Pháp[2].
Ảnh hưởng của quyền lực Đức đang lên đã chứng minh sâu sắc sự không ổn định của hệ thống quan hệ quốc tế hiện thời. Vì một điều mà đế chế Đức tìm kiếm lúc này là một vị trí mạnh hơn trên thế giới ít nhất là cân bằng với đối thủ của nó là Anh và Pháp. Sau sự ra đi vào năm 1890 của vị lãnh đạo đầy kỹ năng ngoại giao và khôn ngoan Bismarck, Hoàng đế Wihelm, người cai trị Đức từ gia đình Hehenzollen luôn kiên quyết đòi yêu sách đối với những gì ông ta coi là khu vực hợp pháp của Đức trong cấu trúc quyền lực thế giới. Dưới sự cai trị của Hoàng đế Wihelm II, những chính sách của Đức đã khởi động một cuộc chạy đua vũ trang chủ yếu trong những năm sau năm 1900. Trong quá trình đó, thành tựu và tài sản có được từ công cuộc công nghiệp hóa của châu Âu đã bị ném ngày càng nhiều vào việc thiết kế tàu và thần công. Một sự phân cực sâu sắc về quyền lực ở châu Âu đã bắt đầu hình thành. Sau hàng thế kỷ, châu Âu đã chứng kiến sự cân bằng nhảy vọt giữa các quốc gia có sức mạnh cạnh tranh (có thể so sánh được) một cách mạnh mẽ. Và các liên minh thường xuyên phát triển nhằm đối trọng với bất kỳ quyền lực nào có thể đe dọa nhằm đạt vị trị lãnh đạo lục địa. Từ năm 1905 đến năm 1914, châu Âu đã chứng kiến không chỉ một cuộc chạy đua vũ trang rộng lớn tại lục địa của mình mà còn tham gia vào hàng loạt những khủng hoảng chính trị trên thế giới liên quan đến cuộc chạy đua quyền lực ở Nam Phi đặc biệt là Morocco và ở Balkans. Xung đột ở Balkans đã châm ngòi cho sự biến động lớn của thế giới đó là Chiến tranh thế giới I cùng với nó là sự sụp đổ không ít hơn 4 đế chế (Đức, Áo, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ) và sự hủy hoại trật tự châu Âu. Có khoảng 10 triệu người lính đã bỏ mạng và bản đổ chính trị đã bị xé ra từng mảng. Chiến tranh thúc đẩy sự sụp đổ của hàng loạt chế độ cũ. Điều này đồng nghĩa với chủ thể quan hệ quốc tế có sự thay đổi về chế độ chính trị. Hệ thống quan hệ quốc tế mới được thành lập dựa trên Hội nghị Versaille, đó là một trật tự đa cực mang tính toàn cầu có sự góp mặt của một nước chưa bao giờ tham gia vào công việc quốc tế đó là Mỹ và sự ra đời của tổ chức chính trị - an ninh lớn là Hội Quốc Liên.
Tuy nhiên, sự tham gia không nhiệt tình của Mỹ và sự yếu kém của Hội Quốc Liên trong việc giữ gìn hòa bình an ninh quốc tế cùng với việc ở Đức chế độ Weimar bị sụp đổ thay vào đó là Hitler và Đảng Quốc xã lên nắm quyền lực tháng 1/1933, cộng với việc Anh, Pháp dung túng cho sự tái vũ trang ở Đức, cuối cùng, sau việc đảm bảo an toàn bằng một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Liên Xô, Hitler đã bắt đầu chiến tranh vào năm 1939 bằng việc tấn công Ba Lan. Châu Âu lại bị chìm đắm trong chiến tranh thế giới lần thứ II, và lần này thì hậu quả lại kinh khủng hơn nhiều.
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, hệ thống quan hệ quốc tế mới được xác lập dựa trên các hội nghị quốc tế của phe Đồng minh là Hội nghị ngoại trưởng ở Moscow (9/1943), Hội nghị 3 nguyên thủ ở Tehran (10/43), đặc biệt các cuộc đàm phán tại Yalta (2/45) và Posdam (7-8/45). Hệ thống mới đã được đặt tên theo đúng sự sắp xếp quyền lực sau thế chiến thứ hai đó là Hệ thống Yanta – trật tự tồn tại trong hệ thống là hai cực.
Cho đến năm 1991, vì rất nhiều nguyên nhân nên mô hình Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ - một cực tan ra, hệ thống không còn tồn tại. Thế giới chờ đợi một hệ thống quan hệ quốc tế mới. Hệ thống quan hệ quốc tế mới có cấu trúc như thế nào, mô hình của nó ra sao vẫn đang là đề tài tranh luận mang tính thời sự trong giới nghiên cứu về lý luận quan hệ quốc tế. Thực tế cho thấy vẫn chưa có mô hình cấu trúc nào nhận được sự đồng thuận của hầu hết các học giả trên thế giới. Nhưng có thể khẳng định một điều, hai thập kỷ sau khi Hệ thống Yanta tan rã thì đặc biệt hệ thống quan hệ quốc tế đương đại vẫn đang trong quá trình hình thành và có lẽ đó sẽ là một hệ thống toàn cầu đa cực, đa trung tâm không đồng đều chưa từng tồn tại trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại.
Ths. Lưu Thúy Hồng
-Khoa Chính trị học


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Vũ Dương Huân, Một số vấn đề quan hệ quốc tế chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam Tập 1, Nxb Chính trị - Hành chính, HN – 2009, Tr163,
2.     Phạm Thái Việt, Hệ thống các quan hệ quốc tế đương đại: các quan niệm khác nhau, Thông tin Khoa học xã hội, số 5.2001
3.      Lại Văn Toàn, Trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh: phân tích và dự báo, Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2001
4.     John T. Rourke and Mark A. Boyer, World Politics – international politics on the world stage, Brief, 4th edition, McGraw-Hill/Dushkin Companies
5.     Robert J. Lieber, No common Power - Understanding international relations, Goergetown University 7/1987
6.     Walter John Raymond, Ph. D. S.J.D, Dictionary of politics - Selected American and foreign political and legal terms, 7th edition, Brunswick Publishing Corporation.


[1] John T. Rourke and Mark A. Boyer, “World Politics – international politics on the world stage, Brief”, 4th edition, McGraw-Hill/Dushkin Companies p49
[2] Robert J. Lieber, No common Power - Understanding international relations, Goergetown University 7/1987, p21
Học viện Báo chí & Tuyên truyền