Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

QUAN ĐIỂM, CHỦ THUYẾT CỦA CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VÀ HỌC GIẢ HÀN QUỐC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG ĐÔNG Á


QUAN ĐIỂM, CHỦ THUYẾT CỦA CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VÀ HỌC GIẢ HÀN QUỐC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG ĐÔNG Á
Đăng ngày: 11-12-2012, 23:16

Trước đây, các nước Đông Bắc Á gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc chưa tham gia vào bất cứ một hiệp định thương mại khu vực nào. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997, những nước này mới bắt đầu quan tâm hơn tới việc hình thành các hiệp định thương mại tự do. Năm 1998 -1999, Hàn Quốc đã xây dựng một FTA với Chile và bắt đầu tiến hành một nghiên cứu chung với Nhật Bản, Niudilân và Thái Lan.

Nghiên cứu của Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) chỉ ra rằng, việc hình thành một liên minh tiền tệ châu Á sẽ còn mất nhiều năm mới có thể hoàn tất.

Hội nhập Đông Bắc Á chỉ được coi là mới bắt đầu bởi vẫn chưa có một hiệp định mậu dịch khu vực duy nhất nào bao gồm cả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc; các vấn đề chính trị giữa ba bên: sự chia cắt của bán đảo Hàn và sự bất trắc của vùng Viễn Đông của Nga; sự phụ thuộc vào Mỹ và sợ Nhật Bản lấn át; Trung Quốc và Nhật Bản đều cảnh giác lẫn nhau. Các hiệp định mậu dịch tự do của các nước khác cũng có một tác động chính sách trong nước mạnh mẽ đối với vấn đề này.

Hàn Quốc chuyển đổi hướng tới chủ nghĩa khu vực hiện đại

Trong nhiệm kỳ tổng thống Kim Dae-jung nắm quyền, chính sách hội nhập khu vực đã được thúc đẩy rất tích cực. Chủ nghĩa khu vực Đông Á đã trở thành một trong các trụ cột chính của chính sách đối ngoại của Hàn Quốc, nó được xem như là một phương tiện để thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng trong khu vực. Tổng thống Kim Dae-jung nhìn nhận vấn đề bán đảo Hàn và giải pháp có thể của nó như là một phần của mạng lưới khu vực rộng lớn, bao gồm các nước láng giềng khu vực Đông Bắc Á, vì vậy, ông đã tập trung nhấn mạnh vào thể chế hóa khu vực, bên cạnh Chính sách Ánh Dương hướng tới Triều Tiên. Nhờ đó, nền tảng của các cuộc đàm phán 6 bên cũng được thiết lập trong giai đoạn này. Đối với tổng thống Kim, vấn đề hợp tác khu vực và thể chế hóa cần phải được song hành với những cơ hội cải thiện quan hệ Hàn Quốc – Triều Tiên.

Sáng kiến đáng chú ý nhất trong việc xây dựng Công Đồng Đông Á là việc thiết lập Nhóm Tầm nhìn Đông Á (EAVG), cho phép khu vực tư nhân và khoa học được tham gia vào việc tìm kiếm cách thức thúc đẩy hợp tác hơn nữa trong khối các nước APT. EASG đã đưa ra một số biện pháp tập trung vào vấn đề thể chế hóa khu vực trong bản Báo cáo cuối cùng lên Hội nghị APT như sau: Thiết lập một Hội đồng Kinh doanh Đông Á;Thiết lập một Mạng lưới Thông tin Đầu tư Đông Á; Xây dựng một mạng lưới chuyên gia hàng đầu Đông Á; Thiết lập một Diễn đàn Đông Á; Thiết lập các chương trình giảm nghèo; Tăng cường các cơ chế hợp tác về các vấn đề an ninh phi truyền thống; Phối hợp giữa các thể chế văn hóa và giáo dục nhằm thúc đẩy một cảm nhận mạnh mẽ, thấu đáo về khái niệm Đông Á; Thúc đẩy các nghiên cứu Đông Á trong khu vực; Thiết lập một Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Á; Theo đuổi nâng cấp Hội nghị ASEAN + 3 thành Hội nghị Đông Á; Thúc đẩy hợp tác môi trường hàng hải khu vực chặt chẽ hơn trên toàn bộ khu vực; Xây dựng một khung khổ cho các chính sách và chiến lược năng lượng và kế hoạch hành động.

Cách tiếp cận khu vực hiện nay của chính quyền Tổng thống Lee Myung-bak

Kể từ khi lên nắm quyền năm 2008, Tổng thống Lee Myung-bak dường như tiếp tục cam kết của Hàn Quốc đối với khu vực và quá trình thể chế hóa với một sự quan tâm nhất định tới Đông Bắc Á cùng với duy trì APT như một động lực chủ yếu để hướng tới hội nhập Đông Á.

Trong bối cảnh này, việc tăng cường các cuộc Hội nghị Hợp tác Ba bên của nhóm CKJ là ví dụ gần đây nhất về tầm quan trọng của Seoul đối với vấn đề thể chế hóa của khu vực Đông Bắc Á. Hội nghị thượng đỉnh ba bên này đã hình thành trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng châu Á và sự sáng tạo ra khuôn khổ APT trong những năm gần đây đã được hợp nhất như một kênh chính cho đối thoại giữa ba thành viên chính của NEA, đưa Hàn Quốc vào trung tâm của việc định hình thể chế hợp tác giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Năm 2008 là năm có nhiều bước tiến trong hợp tác ba bên giữa Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Tại hội nghị Hội nghị Ba bên được tổ chức ở Fukuoka Nhật Bản, các nhà lãnh đạo ba nước đã thông qua một thỏa thuận chung tiến hành trao đổi ở cấp cao thường xuyên hơn. Năm 2010, ba nước đã thông qua một chương trình nghị sự “Tầm nhìn 2020” về hợp tác ba bên bao gồm triển vọng tương lai của khung khổ đa phương thông qua thiết lập một loạt các nhiệm vụ hành động cụ thể trên 5 lĩnh vực bao gồm: Thể chế hóa và nâng tầm Đối tác Ba bên, Hợp tác kinh tế bền vững thịnh vượng chung, Hợp tác về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, thúc đẩy quan hệ thân thiện thông qua mở rộng trao đổi văn hóa và nhân văn, và Nỗ lực chung cho Ổn định và Hòa bình quốc tế và khu vực.

Với hội nghị cấp cao lần thứ 4 diễn ra thành công trong năm 2011, cuộc đối thoại thường xuyên hiện nay còn bao gồm đối thoại cấp bộ trưởng về các vấn đề tương tự như văn hóa, ngoại giao, thương mại và môi trường, cùng với quyết định thiết lập một ban thư ký thường trực ở Hàn Quốc là một bước tiến đáng ghi nhận trong việc đưa Seoul vào trung tâm của quá trình này, điều đó thực sự trở thành cơ sở trong cách tiếp cận của Hàn Quốc đối với thể chế hóa khu vực Đông Bắc Á.

Seoul cũng đang thực sự quan tâm tới quan hệ với Trung Quốc nhiều hơn với Nhật Bản.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là, vì mối đe dọa từ Triều Tiên và tầm quan trọng chiến lược của đồng minh an ninh Hàn – Mỹ nên việc duy trì sự can dự của Mỹ vào khu vực vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Seoul trong cách tiếp cận hiện nay của họ đối với khu vực. Điều này được phản ánh qua việc tăng cường quan hệ đồng minh trong những năm gần đây và sư ủng hộ tư cách thành viên của Mỹ trong các thể chế như ARF và EAS (các diễn đàn mang tính chủ nghĩa khu vực mở).

Quan điểm chính sách đối ngoại của chính phủ Tổng thống Lee Myung-bak hiện nay về xây dựng một cơ chế hợp tác Đông Bắc Á

Hàn Quốc sẽ xây dựng một khung khổ hợp tác toàn diện để có thể giúp khu vực vượt qua được những trở ngại chính trị đối lập, giải quyết các thách thức chung và mở rộng phạm vi các lợi ích chung.

Hợp tác giữa Hàn Quốc, Mỹ và Nhật Bản cần dựa trên các giá trị thị trường tự do và dân chủ tự do, tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, thương mại và các lĩnh vực văn hóa-xã hội, ngoài các lĩnh vực chính trị và an ninh, đẩy mạnh trao đổi thông tin tình báo và phối hợp chiến lược giữa ba nước nhằm giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên và duy trì sự ổn định trên bán đảo Hàn.

Tăng cường hợp tác ba bên giữa Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản như một cách để nâng cao vai trò và vị thế của Đông Á trong cộng đồng quốc tế, giải quyết triệt để các thách thức chủ yếu hiện nay của khu vực Đông Bắc Á.

Trong quan hệ với Trung Quốc, chính phủ Hàn Quốc đã theo đuổi mục tiêu xây dựng một quan hệ đối tác hợp tác chiến lược. Còn trong quan hệ với Nga, Hàn Quốc đã thiết lập một đối tác hợp tác chiến lược trong năm đầu tiên và các cuộc đối thoại chiến lược cấp thứ trưởng 6 tháng một lần giữa Hàn Quốc và Nga giúp hai nước tham gia vào các thảo luận cởi mở hơn về một loạt các vấn đề, đồng thời, khai phá thêm nhiều cách thức hợp tác mới; tiếp tục hợp tác với Nga trong các lĩnh vực trao đổi công nghệ tiên tiến, đào tạo các chuyên gia khoa học và phát triển, bảo vệ các nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên.

Thứ nhất là đề cập tới vai trò trung tâm của Hàn Quốc trong Chủ nghĩa Khu vực Đông Á

Tại sao Hàn Quốc có thể giữ vai trò trung tâm?

Hàn Quốc có vẻ như là ứng cử viên phù hợp nhất nắm giữ vai trò lãnh đạo như một nhà nước phát triển về kinh tế và dân chủ; đóng vai trò lôi kéo các thành viên khác trong khu vực.

Tổng thống Kim Dae-jung là người tiên phong ủng hộ APT và cả EAS. Tổng thống Roh Moo-hyun cũng đã ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa khu vực ở NEA. Hơn nữa, tương lai các hiệp định khu vực này phụ thuộc nhiều vào các nước Đông Bắc Á hơn là các nước ASEAN, bởi “cầu nối” Đông Nam Á trong chủ nghĩa khu vực đã giữ vai trò trong một thời gian, nhưng dường như hiện không còn tiếp tục nắm giữ vai trò này lâu hơn được. Một khung khổ khu vực Đông Á thực sự cần phải được thể chế hóa NEA với lãnh đạo nội sinh dẫn dắt quá trình này.

Có thể nói, một sự hiểu biết thấu đáo về các sức mạnh là lựa chọn ưu tiên hiện nay để hiểu về vai trò lãnh đạo của Hàn Quốc. Một nước có sực mạnh tầm trung và là một nước có vị trí địa lý “ở trung tâm” giữa các sức mạnh lớn. Theo cách tiếp cận hành vi, tập trung vào một dạng thức cụ thể của hành vi mà các sức mạnh tầm trung thường biểu hiện trên trường quốc tế. Điều này nhấn mạnh lên hành vi ám chỉ rằng “lãnh đạo tầm trung” không phải là một tương lai bất biến mà thay vào đó nó được điều chỉnh theo thời gian tùy thuộc vào những thay đổi trong hệ thống quốc tế. Hàn Quốc hội tụ đủ điều kiện để có thể được coi là một sức mạnh tầm trung đó.

Tuy nhiên, cũng còn có một số ý kiến chỉ trích về khả năng thực sự của Hàn Quốc trong vai trò lãnh đạo khu vực, trong số đó, các ý kiến chủ yếu nhằm vào thái độ đối kháng với Nhật Bản của công chúng Hàn Quốc và sự hoài nghi của họ đối với Trung Quốc. Hơn nữa, việc không có khả năng giải quyết vấn đề Triều Tiên và những hạn chế này của Hàn Quốc đã khiến nó phải phụ thuộc vào Mỹ để đảm bảo an ninh là những lý do khiến một số người nghi ngại về khả năng lãnh đạo và là cầu nối khu vực.

Sự lựa chọn cách thức tiếp cận của Hàn Quốc vào chủ nghĩa khu vực kinh tế Đông Á

Ba nước lớn vùng Đông Bắc Á, Trung Quốc Nhật Bản và Hàn Quốc đã chọn cách tiếp cận đa lớp để tăng cường chủ nghĩa khu vực kinh tế.

Ba nước cần tích cực tham gia trong tiến trình ASEAN + 3 và phát triển nó thành một tiến trình Đông Á, trong đó, vùng Đông Bắc Á tham gia với một
vị thế bình đẳng với các nước ASEAN. Đồng thời, mỗi nước vùng Đông Bắc Á phải phấn đấu để hình thành một FTA song phương với Đông Nam Á hay Đông Bắc Á đối ứng. Hàn Quốc đã rất tích cực trong cả quá trình ASEAN + 3 và các cuộc họp Hội nghị Thượng đỉnh Hàn Quốc-Trung Quốc-Nhật Bản.

Hàn Quốc còn có thể đóng góp cho hội nhập kinh tế ở Đông Á. Là một quốc gia hạng trung, Hàn Quốc có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đối thoại trong khu vực Đông Á như một tổng thể cũng như giữa hai nước lớn, Trung Quốc và Nhật Bản cũng như các nước ASEAN. Với giả định chức năng như vậy, Hàn Quốc phải làm cho nền kinh tế của mình có vai trò như một mô hình cho các nước Đông Á khác, trên cả hai khía cạnh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở cửa. Hàn Quốc phải ghi nhớ rằng, vị trí địa lý và kích thước kinh tế trung gian của nó chưa đủ để đóng vai trò hàng đầu trong hội nhập kinh tế khu vực. Bằng cách tích cực theo đuổi tự do hóa kinh tế, Hàn Quốc cũng phải nhắc nhở các nước láng giềng Đông Á, chủ nghĩa khu vực kinh tế không thể thay thế tự do hóa.

Thứ hai là sự cần thiết của hợp tác kinh tế ba bên hướng tới một FTA 3 bên Trung – Nhật - Hàn

Tình hình chính trị Đông Bắc Á hiện nay rất khó khăn để tham gia vào trung tâm lãnh đạo khu vực. Triều Tiên hiện nay vẫn đang bị cô lập và vẫn chưa có bất kỳ cải cách kinh tế nào. Khó có thể coi Nga là một phần của Đông Bắc Á, trong khi đó, Đài Loan cũng là một vấn đề gai góc kể từ khi Trung Quốc coi đó là một phần lãnh thổ. Vì vậy, Theo Hàn Quốc, lãnh đạo khu vực phải bắt đầu quá trình với ba nước: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản.

Để thúc đẩy hợp tác kinh tế Trung-Nhật-Hàn, hiện nay cần phải xây dựng một FTA phù hợp. FTA Trung-Nhật-Hàn sẽ có tầm quan trọng vô cùng to lớn về mặt kinh tế không chỉ đối với các nước này mà còn đối với toàn cầu. Ba nước này chiếm tới 1/5 GDP của thế giới và mức độ hợp tác kinh tế của ba nước đã phát triển đáng kể trong 20 năm qua. Tổng thống Hàn Quốc Lee Muyng-Bak cho rằng, với một vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu sau khủng hoảng, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc phải nhanh chóng thành lập một khu vực thương mại tự do.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, còn có một số trở ngại, thách thức đặt ra là:

Sự chênh lệch trong mức độ phát triển kinh tế, sự khác biệt trong hệ thống chính trị là những rào cản đối với hợp tác kinh tế. Hơn nữa, một trong những vấn đề cơ bản phải được giải quyết là tính thiếu tinh thần cộng đồng giữa ba quốc gia và sự nhiệt tình của các bên trong vấn đề đàm phán FTA cũng có những khác biệt. Trong khi Nhật Bản muốn củng cố vị trí của nước này bằng cách theo đuổi cùng lúc TPP và FTA Trung-Nhật-Hàn thì Hàn Quốc lại tỏ ra miễn cưỡng do lo ngại thâm hụt thương mại với Nhật Bản có thể gia tăng.

Ngoài ra, Mỹ cũng là một nhân tố không thể xem nhẹ, bởi Mỹ không hề mong muốn ba nước Trung-Nhật-Hàn xích lại quá gần nhau. Trong khuôn khổ các quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật và Mỹ-Hàn, chiến lược FTA của Nhật Bản và Hàn Quốc tất yếu sẽ phải chịu sự kìm hãm của Mỹ. Những năm gần đây, Mỹ đã trở lại châu Á, chủ xướng và vận động các nước Đông Á tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một sân chơi mà Trung Quốc bị gạt ra ngoài. Khi sự dịch chuyển trọng tâm chiến lược của Mỹ sang phía Đông đã làm gia tăng sự phức tạp trong quan hệ hợp tác ở khu vực Đông Á thì tiến trình xây dựng FTA Trung-Nhật-Hàn sẽ đối mặt với rất nhiều nhân tố không rõ ràng.

Cuối cùng là những đề xuất thiết lập một Hội đồng Hợp tác Kinh tế Đông Bắc Á

Ba nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc phải đưa ra một số cơ chế khác để tăng cường hợp tác khu vực.

Trong hội nhập kinh tế toàn diện, các chính phủ thành lập theo pháp luật và khung khổ thể chế. Hội nhập kinh tế khu vực, theo đuổi dưới sự bảo trợ của các lực lượng thị trường mà không có nỗ lực thể chế.

Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương sẽ thực hiện các mục tiêu của việc tăng cường hợp tác kinh tế Đông Bắc Á bằng cách cung cấp một khuôn khổ thể chế cần thiết. Trên thực tế, Hội đồng sẽ bắt đầu với ba nước lớn của khu vực về kích thước kinh tế. Các nước và các nền kinh tế khác thuộc Đông Bắc Á có thể tham gia Hội đồng khi họ đã sẵn sàng để làm như vậy. Hội đồng phải nhằm mục đích thông qua những cách phi truyền thống để nhận ra những lợi ích của hội nhập kinh tế truyền thống, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị và an ninh, tiếng nói được tăng cường trên trường quốc tế.

Hội đồng phải cố gắng tăng cường hợp tác kinh tế trong các lĩnh vực rộng lớn như thương mại, đầu tư, hợp tác công nghiệp, công nghệ, môi trường, viễn thông, giao thông vận tải, năng lượng, hợp tác tài chính, phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô.

Sự hình thành của Hội đồng và thúc đẩy hợp tác kinh tế cũng sẽ giúp giảm căng thẳng trong khu vực. Sự hình thành Hội đồng này cũng có thể tăng thêm tiếng nói của Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản trên trường quốc tế, mặc dù ba nước sẽ không được tính cộng gộp làm một trong bản thoả thuận về mọi vấn đề.

Hội đồng có thể hoạt động hiệu quả hơn bằng cách tập trung vào các vấn đề khu vực mà cả ba quốc gia quan tâm. Trong ý nghĩa này, Hội đồng sẽ đóng một vai trò bổ sung cho APEC.

Mặc dù có sự hình thành của Hội đồng, nhưng quan hệ kinh tế song phương có thể vẫn còn quan trọng hơn hợp tác kinh tế ba bên.

Do các chức năng của Hội đồng tương tự như của APEC nên cơ cấu của nó có thể dựa trên APEC.

Chính phủ Hàn Quốc nên đề nghị hình thành Hội đồng. Trong số ba nước, Hàn Quốc có vị trí ở giữa, cả về mặt địa lý và kinh tế. Hơn nữa, Hàn Quốc không bị nghi ngại là đang tìm kiếm quyền bá chủ trong khu vực.



Bùi Đông Hưng tổng thuật theo Đề tài cấp bộ năm 2010-2012, "Những quan điểm và lý thuyết chủ yếu của các nước Đông Bắc Á đối với sự hình thành Cộng đồng Đông Á" (TS. Võ Hải Thanh)

CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ SỰ PHÂN CHIA BÁN ĐẢO HÀN THỜI CẬN HIỆN ĐẠI


CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ SỰ PHÂN CHIA BÁN ĐẢO HÀN THỜI CẬN HIỆN ĐẠI


1. Các phong trào yêu nước
Trước khi Nhật Bản chính thức đặt ách cai trị trên bán đảo Hàn thì đã có hàng loạt phong trào yêu nước phản đối sự can thiệp của đế quốc nước ngoài như Nga, Pháp, Mỹ, đặc biệt, sự phản đối Nhật Bản diễn ra quyết liệt nhất.
Cuối thế kỷ XIX, trước sự can thiệp một cách sâu rộng và liên tục của các thế lực nước ngoài, đe doạ chủ quyền đất nước, trong nhân dân đã dấy lên làn sóng bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. SeoJaePil (Từ Tái Bật), chủ bút báo Độc lập Tân văn đã cùng những người đứng đầu phái Khai hoá đứng ra thành lậpHiệp hội Độc lập vào năm 1896. Hiệp hội này kêu gọi tất cả các tầng lớp trong xã hội tham gia; Phương hướng hành động là khai sáng cho quốc dân, tham gia các hoạt động chính trị bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, bảo vệ quyền lợi của nhân dân; thông qua cải cách để làm giàu đất nước.
Hiệp hội Độc lập thông qua báo Độc lập tân văn, tờ báo song ngữ bằng tiếng Hàn và tiếng Anh đã khai sáng cho đồng bào, thường xuyên mở hội thảo, diễn thuyết để cổ xuý tinh thần độc lập tự chủ. Đặc biệt, Hiệp hội này chủ trương phải hoạt động chính trị theo phương châm tôn trọng quyền lợi của quốc dân thì mới có thể xây dựng đất nước giàu mạnh.
Trong các hoạt động của Hiệp hội Độc lập, nổi bật nhất là hoạt động của Hội Vạn dân cộng đồng. Hội này do Hội viên của Hiệp hội Độc lập chủ trì đã được tổ chức tại Jongno, Seoul, (năm 1898) tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia thảo luận về các vấn đề chính trị, xã hội, phản đối hệ thống chính trị phụ thuộc nước ngoài, yêu cầu cải cách chính trị, đòi thực hiện nền chính trị nghị hội mang tính chất cận đại.
Ngay sau khi chủ trương của Hội Vạn dân cộng đồng được đưa ra, thì các hoạt động của quần chúng nhân dân mạnh mẽ hơn. Bởi thế, thế lực chính trị bảo thủ cảm thấy lo ngại, tìm cách khống chế và bắt bớ những người lãnh đạo của Hội. Nhân cớ Hiệp hội Độc lập xung đột với Hiệp hội Hoàng quốc (Hiệp hội do những người bán hàng rong lập ra), chính phủ đã giải tán Hiệp hội Độc lập.
Hiệp hội tuy bị giải tán nhưng hoạt động của Hiệp hội đã khích lệ tinh thần độc lập tự chủ, có ảnh hưởng rất lớn đến các phong trào dân tộc chống ngoại xâm của nhân dân Joseon.
Sau khi Hiệp hội Độc lập bị giải tán, đoàn thể chính trị ra đời sớm nhất là Hội Bảo an. Hội này đi tiên phong và hướng dẫn dư luận phản đối Nhật Bản đòi quyền khai thác đất hoang trong thời gian dài. Kết cục, Nhật Bản phải từ bỏ đòi quyền lợi đó nhưng Hội Bảo an cũng bị Nhật đàn áp và giải tán.
Sau sự đàn áp của Nhật, phong trào yêu nước chủ yếu tập trung chống lại sự xâm lược của Nhật, tiêu biểu là hoạt động của các Hội yêu nước như Hội Nghiên cứu chính trị lập hiến, Hội Đại Hàn tự cường, Hội Tân văn… Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế và thiếu kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh, hơn nữa, lực lượng chênh lệch quá lớn nên hàng ngàn người đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh chống Nhật.
Ý nghĩa lớn lao của các phong trào yêu nước là hun đúc tinh thần tự chủ dân tộc để rồi thổi bùng lên những cuộc đấu tranh lớn tiếp theo.
Từ năm 1910 trở đi, Nhật Bản chính thức cai trị bán đảo Hàn và thi hành chính sách đô hộ hà khắc nhằm đồng hoá dân tộc Hàn. Cùng với chính sách bóc lột nhân lực, vật lực và tài nguyên, Nhật Bản còn thi hành chính sách triệt tiêu dân tộc Hàn. Chúng đưa ra thuyết Nhật Tiên đồng tổ luận (Il Seon dongjoron) với luận điệu Nhật và Triều Tiên (Joseon) có cùng một tổ tiên và bắt buộc người Joseon phải sử dụng tiếng Nhật, lấy họ tên người Nhật, cấm xuất bản các tờ báo tiếng Hàn…
Mặc dù phải chịu ách thống trị thực dân tàn bạo nhưng ý chí độc lập của người dân Hàn ngày càng mạnh mẽ. Ngày mùng 1 tháng 3 năm 1919, một phong trào độc lập lớn nhất được triển khai một cách rộng lớn mà tiêu điểm là ở Seoul. Lịch sử Hàn Quốc gọi đây là Phong trào mùng 1 tháng 3. Nhân buổi tang lễ của nhà vua Gojong (Cao Tông: 1863 – 1907), ông vua bị buộc phải rời bỏ ngai vàng vào năm 1907, mất năm 1919, các nhà lãnh đạo phong trào dân tộc coi đây là một cơ hội thuận lợi để tổ chức một cuộc biểu tình rộng lớn chống lại ách thống trị của Nhật Bản, công bố Bản Tuyên ngôn độc lập. Ban đầu, cuộc biểu tình dự kiến tiến hành vào ngày 3 tháng 3, tức ngày đưa tang nhà vua. Nhưng, lo ngại bại lộ kế hoạch nên họ đã quyết định tiến hành trước hai ngày. Đúng ngày 1 tháng 3, đông đảo thị dân, học sinh, sinh viên, tín đồ các tôn giáo đã dồn về Jongno, trung tâm Seoul tổ chức biểu tình, nghe đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, 33 người lãnh đạo phong trào đã ký tên vào Bản Tuyên ngôn này. Sau đó, họ đổ xuống đường hô vang khẩu hiệu đòi độc lập, vẫy cờ Thái cực.
Quân đội Nhật bị bất ngờ trước cuộc biểu tình, tuy thế, chúng không chịu nhượng bộ và cho quân đội đàn áp đẫm máu. Có khoảng hơn 7000 người Hàn bị giết, 16000 người bị thương, hơn 40000 người bị bắt giữ, 415 ngôi nhà, 2 trường học, 47 nhà thờ bị phá huỷ….
Mặc dù bị thất bại nhưng Phong trào 1 – 3 đã xác nhận độc lập tự chủ trên toàn lãnh thổ thông qua tuyên bố Bản Tuyên ngôn độc lập. Đây chính là động cơ để các phong trào độc lập trong và ngoài nước được triển khai đa dạng hơn mà kết quả của nó là việc thành lập được Chính phủ lâm thời Đại Hàn dân quốc ở Thượng Hải Trung Quốc vào tháng 4 năm 1919. Chính phủ lâm thời có đầy đủ đại biểu đại diện cho các tỉnh thành trong cả nước tham gia và Tờ báo Độc lập Tân văn là cơ quan ngôn luận của chính phủ. Kế tiếp, năm 1920, Cao Ly Cộng sản Đảng được thành lập ở Thượng Hải do Lý Đông Huy lãnh đạo; năm 1925, Triều Tiên Cộng sản Đảng ra đời; năm 1927, Tân Cán Hội với tư cách là đoàn thể chính trị xã hội lớn nhất được thành lập. Năm 1929, nổ ra phong trào học sinh Gwang-ju phản đối Nhật Bản. Năm 1931, Chủ tịch Kim Gu của chính phủ lâm thời thành lập “Hàn nhân ái quốc đoàn” (đoàn thể người Hàn Quốc yêu nước) nhằm tổ chức các cuộc ám sát thực dân Nhật. Năm 1933, học hội tiếng Jo-seon ấn định phương án thống nhất về ngữ pháp Hangeul. Năm 1934, sáng lập học hội Jin-dan (Chấn Đàn học hội) nghiên cứu về Hàn Quốc học. Năm 1938, trước phong trào yêu nước dâng cao, Nhật Bản sửa đổi lệnh giáo dục Jo-seon, phế bỏ việc giáo dục chữ Hangeul cho người Hàn Quốc…
Tựu trung, các phong trào yêu nước được dấy lên có ý nghĩa to lớn trong việc nuôi dưỡng, hun đúc tinh thần dân tộc chống lại ách thống trị của Nhật Bản để rồi tinh thần đó được phát huy cao độ vào dịp mùa thu năm 1945, đánh đuổi phát xít Nhật ra khỏi bán đảo Hàn.
2. Bán đảo Hàn được giải phóng và phân chia Nam – Bắc
Sau Đại chiến Thế giới II, Đức Ý Nhật đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện. Quân đồng minh từ hai hướng tiến sang bán đảo để giải giáp vũ khí của quân đội Nhật. Nhân cơ hội này, nhân dân trên bán đảo Hàn đã vùng lên giành độc lập. Ngày 15 – 8 – 1945, người dân trên bán đảo hoàn toàn được giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật Bản suốt 36 năm. Tuy nhiên, người dân Hàn đã không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là thống nhất đất nước mà hai miền chịu ảnh hưởng của hai lực lượng đồng minh khác nhau, phía Bắc là Liên Xô, Trung Quốc; phía Nam là Mỹ. Quân đội Liên Xô và Mỹ lần lượt rút khỏi bán đảo Hàn vào cuối năm 1948 nhưng chế độ Hiệp thương hai miền không được thực hiện. Ngày 15 – 8 – 1948, ở phía Nam, nhà nước Đại Hàn Dân Quốc được thành lập. Ngày 9 – 9 – 1948, ở phía Bắc, nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng ra đời. Hai bên lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới và đi theo đường lối chính trị khác nhau. Hai thể chế chính trị này dấn sâu vào quan hệ thù địch với sự gắn kết chặt chẽ với Mỹ và Liên Xô, Trung Quốc, các cường quốc đang là đồng minh chống phát xít nay chuyển sang đối đầu về chính trị và quân sự. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bùng nổ cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953.
Trước khi xảy ra chiến tranh, trên dọc biên giới hai miền đã xảy ra các cuộc đụng độ nhỏ. Ngày 25 – 6 – 1950, cuộc chiến bùng nổ và kéo dài hơn 3 năm. Quân độ CHDCND Triều Tiên tiến công quân sự sang phía Nam, chỉ trong vòng một tháng, quân đội Triều Tiên đã chiếm hầu như toàn bộ lãnh thổ phía Nam, trừ đảo Jeju và một phần khu vực Đông Nam như Daegu, Busan. Trước tình thế đó, quân đội Mỹ và Liên hiệp quốc đã can thiệp và đẩy lùi quân đội Triều Tiên tới sát sông Áp Lục (tuyến biên giới giáp với Trung Quốc). Trung Quốc lập tức huy động toàn quân tham chiến toàn diện và đẩy lùi quân Mỹ về phía Nam. Tới tháng 3 – 1951, cuộc chiến chỉ dao động xung quanh vĩ tuyến 38. Đầu tháng 7 năm 1951, hai phe đã bắt đầu bàn bạc để tiến tới ký Hiệp định đình chiến. Trải qua 575 lần họp chính thức, ngày 27 – 7 – 1953, Hiệp định đình chiến được ký kết.
Chiến tranh đã gây cho cả Hàn Quốc và Triều Tiên những tổn thất nặng nề. Ước tính số người thiệt mạng của cả hai miền cộng lại khoảng 2.800.000 ~ 3.690.000 người (chiếm 10% dân số hai miền lúc đó). Tổn thất không chỉ là sinh mạng và vật chất mà còn cả về tinh thần. Sự thù địch giữa hai miền vẫn dai dẳng và sự ly tán giữa các gia đình cũng như của dân tộc vẫn chưa có ngày sum họp.
Lý Xuân Chung
Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Các tài liệu tham khảo chính
  1. Lịch sử Hàn Quốc; Đại học Quốc gia Seoul biên soạn; Nxb Đại học Quốc gia Hà nội.
  2. Hàn Quốc: Lịch sử và văn hoá; Nxb Văn hoá 1996.
  3. Hàn Quốc: Lịch sử và văn hoá;, Nxb Chính trị Quốc gia 1995.
  4. Xã hội Hàn Quốc hiện đại; Đại học Quốc gia Seoul biên soạn; Nxb Đại học Quốc gia Hà nội.
  5. Hàn Quốc (Đất nước- Con ngưòi); Trung tâm thông tin Hải ngoại Hàn Quốc xuất bản; Seoul Hàn Quốc.

20 NĂM QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC: MỘT SỐ THÀNH TỰU NỔI BẬT VÀ TRIỂN VỌNG


20 NĂM QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC: MỘT SỐ THÀNH TỰU NỔI BẬT VÀ TRIỂN VỌNG



Quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Hàn Quốc được thiết lập cách đây 20 năm (ngày 22-12-1992), nhưng có thể nói hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc đã gắn bó từ lâu và có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hoá. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hai nước còn có những tiềm năng rất to lớn có thể bổ sung cho nhau trong quá trình hợp tác và phát triển[1]. Hơn thế nữa, quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc còn được sự thúc đẩy rất mạnh mẽ bởi quyết tâm chính trị của lãnh đạo cấp cao hai nước[2]. Chính vì vậy, chỉ sau 20 năm, một khoảng thời gian không dài so với lịch sử hàng ngàn năm của hai nước, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã phát triển hết sức ngoạn mục trở thành một tấm gương điển hình về quan hệ hợp tác song phương trong khu vực.


[1] . Việt Nam có nhiều tài nguyên, đang phát triển, có lợi thế về nhân công rẻ lại có tình hình chính trị, xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng tương đối cao, đang tích cực hội nhập quốc tế và khu vực; Hàn Quốc có nền kinh tế đứng hàng thứ 10 trên thế giới, các ngành công nghiệp rất phát triển, có lợi thế về công nghệ, kỹ thuật cao và vốn.
[2] . Tháng 8/2001, nhân chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch nướcViệt Nam Trần Đức Lương, hai bên đã ra tuyên bố chung về lập “Quan hệ Đối tác trong thế kỷ 21”; tiếp đó nhân chuyến thăm Việt nam của Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên tháng 10/2004, hai nước đã thoả thuận nâng quan hệ Việt-Hàn lên thành “Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21”; trong chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 28 đến ngày 31 tháng 5/2009, hai bên đã trao đổi ý kiến sâu rộng về các biện pháp thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển sâu sắc hơn nữa trong thời gian tới, thỏa thuận về nguyên tắc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc lên thành "Đối tác hợp tác chiến lược" vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Đây là một bước ngoặt mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực.  Và gần đây nhất, trong các chuyến thăm Hàn Quốc tháng 11/2011 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tháng 3/2012 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên đã trao đổi và đạt được sự đồng thuận về nhiều biện pháp cụ thể nhằm đưa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên một tầm cao mới.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Hàn Quốc, bài viết này sẽ điểm lại một số thành tựu nổi bật của quan hệ hợp tác giữa hai nước trong 20 năm qua và dự báo triển vọng trong thời gian tới.

I. Một số thành tựu nổi bật
1. Từ đối tác thông thường trở thành đối tác chiến lược
Có thể khẳng định rằng việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Hàn Quốc là một quyết định lịch sử phù hợp với lợi ích của hai nước, đưa quan hệ giữa hai nước bước sang một giai đoạn mới, hướng tới tương lai, hợp tác cùng phát triển. Trong 20 năm qua, quan hệ giữa hai nước đã phát triển với tốc độ nhanh hiếm thấy trên hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là về chính trị và kinh tế. Hàn Quốc đã trở thành một trong những đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam và Việt Nam cũng đã trở thành đối tác chiến lược hàng đầu của Hàn Quốc ở Đông Nam Á.
Ngay sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nước đã duy trì đều đặn hàng năm việc trao đổi đoàn và các cuộc tiếp xúc lãnh đạo cấp cao. Kết quả của mỗi lần thăm viếng lẫn nhau ở cấp cao này không chỉ là hàng loạt các văn bản và thỏa thuận hợp tác được ký kết, mà mức độ chặt chẽ của quan hệ song phương giữa hai nước cũng được tăng thêm một bậc. Hai trong số các dấu mốc quan trọng của việc nâng cấp quan hệ giữa hai nước cần được kể đến là: năm 2001 quan hệ hai nước từ đối tác thông thường được nâng lên thành  “Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21”; và năm 2009 tiếp tục được nâng lên thành “Đối tác hợp tác chiến lược”. Như vậy là chỉ sau chưa đầy hai thập kỷ, Việt Nam và Hàn Quốc đã trở thành những đối tác hợp tác chiến lược của nhau. Trong số rất nhiều quốc gia mà Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức trong những năm đầu thập kỷ 1990, Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam. Đây là một sự phát triển hết sức nhanh chóng và ngoạn mục. Việc hai nước nhất trí nâng cấp quan hệ lên thành “Đối tác hợp tác chiến lược” chính là kết quả tất yếu của quá trình phát triển quan hệ song phương trong hai thập kỷ qua, đồng thời cũng là sự thể hiện quyết tâm chung của Chính phủ và nhân dân hai nước thúc đẩy mối quan hệ đó ngày càng phát triển tốt đẹp và sâu sắc hơn trong thời gian tới.
2. Quan hệ kinh tế phát triển nhanh và mạnh trên hầu hết các lĩnh vực
Có thể nói quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc là lĩnh vực phát triển nhanh nhất, năng động nhất, và hiệu quả nhất trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong 20 năm qua trên các khía cạnh như viện trợ phát triển, đầu tư trực tiếp và thương mại.
Về viện trợ phát triển, Việt Nam là một trong những nước được ưu tiên trong chính sách viện trợ phát triển của Hàn Quốc, và cũng là nước nhận được nhiều nhất trong tổng vốn viện trợ phát triển của Hàn Quốc. Giá trị của các khoản viện trợ cũng tăng nhanh qua từng năm. Tổng vốn ODA của Hàn Quốc dành cho Việt Nam giai đoạn 1993 - 2008 mới đạt 471,4 triệu USD; nhưng chỉ trong 3 năm gần đây (2009-2011), Hàn Quốc đã cam kết hỗ trợ 1 tỷ USD cho các dự án phát triển của Việt Nam. Với cam kết này, Hàn Quốc đã trở thành nhà tài trợ song phương lớn thứ hai tại Việt Nam (chỉ sau Nhật Bản). Những lĩnh vực ưu tiên viện trợ của Hàn Quốc dành cho Việt Nam bao gồm: (1) Phát triển nguồn nhân lực và những nhu cầu cơ bản của con người như: giáo dục, đào tạo và y tế; (2) Hỗ trợ nhân đạo cho các vùng sâu vùng xa và vùng nghèo đói; (3) Xây dựng thể cho các khu vực đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; và (4) Phát triển nông nghiệp và nông thôn. Năm 2011, Hàn Quốc đã tuyên bố coi Việt Nam là nước trọng tâm và hình mẫu cung cấp ODA và chọn Việt Nam là 1 trong 26 nước thuộc “Đối tác chiến lược hợp tác ODA”, với 3 trọng tâm là: Tăng trưởng xanh, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng.
ODA của Hàn Quốc dành cho Việt Nam tăng nhanh không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng và đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Việt Nam có tầm quan trọng nhất định trong việc triển khai chiến lược của Hàn Quốc ở Đông Nam Á, là nhân tố mà Hàn Quốc không thể bỏ qua trong chính sách của mình đối với các nước trong khu vực. Mặt khác, nhân tố Hàn Quốc có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế của Việt Nam. Do đó, đẩy mạnh phát triển quan hệ hợp tác toàn diện, trong đó có ODA, là một yêu cầu khách quan đáp ứng lợi ích trước mắt và lâu dài của hai nước.
Về đầu tư trực tiếp, theo Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), lũy kế các dự án còn hiệu lực tính đến ngày 30/6/2012, Hàn Quốc có gần 3.000 dự án đầu tư vào Việt Nam, với tổng vốn đăng ký đạt gần 24 tỷ USD, tăng khoảng 100 lần so với thời điểm ban đầu. Hàn Quốc trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam phần lớn (tới 70%) là vào các ngành công nghiệp chế tạo. Đây cũng là lĩnh vực được ưu tiên nhất trong chính sách thu hút FDI của Việt Nam, đóng góp quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta. Hiện nay, FDI của Hàn Quốc đã được trải rộng trên hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, kể cả những vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các địa phương như Hà Nội, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM và Đồng Nai vẫn là những địa phương đang có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư Hàn Quốc, với số lượng dự án và vốn đầu tư vượt trội.
Chính phủ Việt Nam tiếp tục tạo điều kiện và môi trường đầu tư thông thoáng cho các nhà tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Hàn Quốc. Từ 1/7/2004, Chính phủ Việt nam cũng đã quyết định miễn thị thực nhập cảnh cho tất cả khách Hàn Quốc vào Việt Nam nếu ở Việt Nam dưới 15 ngày. Do đó các doanh nhân Hàn quốc có thể dễ dàng đến Việt Nam tìm hiểu thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư. Ngoài các doanh nghiệp lớn như Samsung, Daewoo, LG, SK đã có mặt tại Việt Nam từ lâu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hàn Quốc cũng đã và đang tăng cường đầu tư và đầu tư thành công tại Việt Nam.
Hiện nay, các doanh nghiệp Hàn Quốc coi Việt Nam là một thị trường đầu tư hấp dẫn. Chính do làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc vào Việt nam đang tăng lên, tại Việt Nam đã hình thành cộng đồng doanh nhân Hàn Quốc lên đến hơn 35.000 người (trong đó ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30.000 người và Hà Nội là hơn 5.000 người). Đây là cộng đồng doanh nhân nước ngoài lớn thứ hai tại Việt Nam (sau Trung Quốc).
Về thương mại, kể từ những năm 1980, Việt Nam đã có sự trao đổi mậu dịch với Hàn Quốc. Song quan hệ thương mại giữa hai nước chỉ thực sự phát triển nhanh kể từ đầu những năm 1990 sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức đến nay. Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, giao dịch thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng 26 lần. Tốc độ tăng trưởng thương mại song phương từ năm 1992 đến năm 2011 đạt mức bình quân 27%/năm. Đặc biệt giai đoạn kể từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) (2007 đến nay), tăng trưởng thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc đã đạt bình quân 42,5%/năm. Hàn Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam. Kim ngạch thương mại song phương hai nước trong năm 2011 đạt gần 18 tỷ USD, tăng trên 39% so với năm trước; hai nước đang tiếp tục đẩy mạnh quan hệ thương mại để phấn đấu đạt mục tiêu tổng kim ngạch thương mại hai chiều 20 tỷ USD vào trước năm 2015, và 30 tỷ USD vào năm 2020; đồng thời tích cực hợp tác nhằm giảm dần và hướng tới sự cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước.
3. Sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa xã hội ngày càng sâu sắc
Với những nét tương đồng của các dân tộc vùng Á Đông, văn hóa, nghệ thuật cũng là một lĩnh vực góp phần quan trọng gắn kết hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc, đặc biệt là trong giới trẻ. Ngày nay, giới trẻ Việt Nam biết rất nhiều, ngưỡng mộ và yêu thích nhiều gương mặt nổi bật của làng nghệ thuật giải trí Hàn Quốc. Với họ, dường như có sợi dây vô hình gắn kết, hòa nhập và họ luôn nhiệt liệt tán thưởng, dành tình cảm chào đón mỗi chuyến lưu diễn của các ca sỹ, diễn viên điện ảnh Hàn Quốc, cùng hòa mình trong những đêm diễn sôi động của các ngôi sao Hàn Quốc. Và dường như giữa họ không còn tồn tại bất cứ thứ rào cản ngôn ngữ, văn hóa nào…Hallyu, làn sóng văn hóa Hàn Quốc, đã được tiếp nhận ở Việt Nam một cách sâu rộng hơn bất cứ ở quốc gia nào khác trong khu vực.
Về giao lưu nhân dân, từ chỗ chỉ có vài chục người, đến nay trên mỗi quốc gia đã có khoảng 100.000 người của bên kia sinh sống. Mỗi năm có khoảng nửa triệu người của mỗi bên thăm viếng lẫn nhau. Thêm vào đó, với khoảng 40 ngàn cặp vợ chồng Việt Nam-Hàn Quốc, quan hệ hai nước đã vượt lên trên quan hệ thông thường và thực sự trở thành một mối quan hệ thân thích.
Nói về quan hệ hợp tác Việt-Hàn, chúng ta không thể không để cập tới một lĩnh vực hết sức quan trọng là hợp tác lao động giữa hai nước. Hợp tác lao động Việt-Hàn là điểm sáng nhất trong quan hệ hợp tác lao động của Việt Nam với các nước. Hợp tác lao động Việt-Hàn, ngoài ý nghĩa quan trọng về kinh tế, còn có ý nghĩa về văn hóa và xã hội. Nó không chỉ góp phần rất to lớn vào việc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, đào tạo tay nghề cho đội ngũ lao động Việt Nam mà còn tạo điều kiện cho sự hòa nhập của người Việt Nam vào cuộc sống thường ngày của đời sống kinh tế cũng như văn hóa, xã hội Hàn Quốc. Quan trọng hơn cả, đội ngũ lao động Việt Nam làm việc trong các công ty của Hàn Quốc tại Việt Nam hoặc sang lao động ở Hàn Quốc trở về với sự am hiểu về văn hoá, ngôn ngữ Hàn Quốc, sẽ là một trong những cầu nối quan trọng tăng cường sự hiểu biết, quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Quan hệ hợp tác lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được thực hiện khá thành công. Trước hết phải kể đến là việc đào tạo và tuyển chọn các cán bộ quản lý, kỹ thuật viên và công nhân người Việt Nam làm việc tại các công ty của Hàn Quốc có vốn đầu tư tại Việt Nam. Hàn Quốc là một trong số các nước có vốn đầu tư lớn ở Việt Nam. Hơn nữa, các dự án đầu tư của Hàn Quốc phần lớn là các dự án với quy mô vừa và nhỏ đòi hỏi sử dụng nhiều lao động. Vì vậy, các nhà đầu tư của Hàn Quốc ở Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào việc đào tạo lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam.
Hàn Quốc cũng là một thị trường lớn và hấp dẫn đối với lao động Việt Nam. Hàn Quốc đang là thị trường xuất khẩu lao động lớn thứ 3 của Việt Nam. Hợp tác lao động sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ vì giành được sự ưu tiên cao của chính phủ hai nước. Chính phủ Việt Nam đánh giá cao những ưu đãi của phía Hàn Quốc đối với lao động Việt Nam, những nỗ lực của các cơ hữu quan của Hàn Quốc, đặc biệt là KOILAF, trong việc thúc đẩy hợp tác lao động với Việt nam. Về phần mình, chính phủ Việt Nam đang cũng đã có những biện pháp thiết thực nhằm nâng cao tay nghề, trình độ văn hoá, trình độ tiếng Hàn, cách ứng xử của lao động để cung cấp cho thị trường Hàn Quốc một đội ngũ lao động có chất lượng cao, ổn định, đáp ứng tốt các yêu cầu của các chủ doanh nghiệp tại Hàn Quốc.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế Việt Nam đang trải qua những diễn biến tương tự mà Hàn Quốc đã trải qua trong những thập kỷ trước đây. Một nét đặc trưng điển hình trong quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, nếu so sánh với rất nhiều quan hệ song phương khác của Việt Nam, là Hàn Quốc sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm của mình và sẵn sàng hỗ trợ một cách đầy đủ nhất cho Việt Nam. Chính phủ Hàn Quốc đã coi Việt Nam là một trong những quốc gia đối tác quan trọng về hợp tác phát triển và đã đề xuất thực hiện Chiến lược Đối tác quốc gia (CPS) với Việt Nam giai đoạn 2011-2015 gắn liền với Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội và Khuôn khổ Chiến lược ODA của Việt Nam. Các lĩnh vực ưu tiên trong CPS được lựa chọn theo 2 tiêu chí: Hàn Quốc có thể làm gì một cách tốt nhất trong hợp tác phát triển với Việt Nam và Việt Nam cần gì nhất? Chính phủ Hàn Quốc coi môi trường và phát triển xanh là lĩnh vực then chốt có thể thay đổi mạnh mẽ đời sống trong tương lai của toàn nhân loại và tiềm năng kinh tế của mỗi quốc gia. Hàn Quốc đã dành mối quan tâm và nỗ lực lớn cho lĩnh vực này và có nhiều điều có thể chia sẻ với Việt Nam. CPS được thiết kế để giúp Việt Nam chuẩn bị và thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu thông qua việc gìn giữ môi trường và tăng trưởng xanh. Những hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn chính sách và các chương trình xây dựng năng lực sẽ được đưa ra để nâng cao khả năng xử lý các vấn đề trên của Việt Nam.
IITriển vọng
Trong 20 năm qua mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã phát triển hết sức nhanh chóng về mọi mặt. Tiếp nối nền tảng của sự phát triển này, việc hai nước chọn năm 2012 làm năm hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc có thể coi là một dấu mốc mới cho sự phát triển hơn nữa mối quan hệ lâu dài của hai nước, trước hết là cho 20 năm tiếp theo. Có thể khẳng định triển vọng của mối quan hệ này là hết sức tốt đẹp. Giai đoạn mới của quan hệ hai nước được đánh dấu bằng các chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch nước Việt Nam, Trương Tấn Sang, vào tháng 12/2011 và Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, vào tháng 3/2012.
Trong các chuyến thăm này, hai bên đã ra các Tuyên bố chung thể hiện những nhận thức chung cũng như quyết tâm của lãnh đạo cấp cao hai nước trong việc đưa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược song phương lên tầm cao mới. Theo Tổng thống Hàn Quốc, Lee Myung Bak, Hàn Quốc là “người bạn thân thiết và chân thành nhất,” là “đối tác tốt nhất và thực chất” của Việt Nam, sẵn sàng hợp tác chặt chẽ hơn nữa với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, cả về kinh tế, thương mại, chính trị, quốc phòng, giao lưu nhân dân và hợp tác trên các diễn đàn quốc tế, khu vực.
Về kinh tế, hai bên đã nhất trí tiến hành khởi động đàm phán về một hiệp định tự do thương mại song phương (FTA). Điều này sẽ mở ra một triển vọng hết sức to lớn cho quan hệ thương mại giữa hai nước, tiến tới một sự hợp tác mậu dịch song phương cân bằng, cùng có lợi. Phía Hàn Quốc cũng đã nhất trí sẽ xem xét nghiêm túc những đề nghị của Việt Nam về việc tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc cũng như giúp Việt Nam trong việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ phù hợp với kế hoạch phát triển của Việt Nam.
Hai bên cũng đã thảo luận về khả năng Hàn Quốc hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam cũng như đào tạo cho Việt Nam nguồn nhân lực trong việc sử dụng hạt nhân vào mục đích hòa bình. Hai bên còn thỏa thuận với nhau hàng loạt các vấn đề quan trọng khác nữa, như: Các doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, khai thác và chế biến sâu khoáng sản của Việt Nam; Mở rộng hợp tác về tư pháp dân sự, ứng dụng công nghệ thông tin, chính phủ điện tử, chuyển giao công nghệ mũi nhọn, hợp tác trong kiểm dịch, bảo vệ môi trường, y tế, lao động, dạy nghề; Và hợp tác trong chống khủng bố, bảo vệ an ninh hàng hải trên các vùng biển của khu vực theo luật pháp quốc tế.
Bên cạnh mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ hai nước thời gian tới vẫn là tăng cường hợp tác về kinh tế- thương mại, việc mở rộng hợp tác trong vấn đề ngoại giao – an ninh với tư cách là đối tác hợp tác chiến lược cũng được coi là hết sức quan trọng. Hai bên cũng chủ trương đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực mang tính toàn cầu như môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và tình hình tín dụng quốc tế bất ổn định.
Đặc biệt, trong chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, hai bên đã ký kết nhiều văn bản hợp tác quan trọng giữa các bộ, ngành của hai nước[3]. Việc ký kết các văn bản hợp tác này có ý nghĩa tích cực đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của Việt Nam và Hàn Quốc.
Hai mươi năm qua, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đã tiến những bước dài và là một trường hợp điển hình của những cặp quốc gia quyết tâm gạt quá khứ, hướng về tương lai và đạt được những thành tựu rực rỡ. Vậy 20 năm tới sẽ ra sao? Câu trả lời không khó vì từ xuất phát điểm ở những bậc thang rất thấp, quan hệ giữa hai nước đã tiến lên những nấc thang cao hơn với một tốc độ phát triển nhanh nhất thì nay từ nấc thang mới đó nhất định hai nước sẽ tiến lên tầm cao hơn nữa của quan hệ quốc tế.
Theo nhận định của tờ báo Thế giới và Việt Nam, “Quan hệ Việt-Hàn (trong 20 năm tới) không phải là tiếp tục phát triển như 20 năm vừa qua, nó không phải là phép cộng của 20 năm tới mà nó là phép nhân, phát triển theo cấp số nhân. Không phải là 20+20 mà là 20x20 hoặc gần như thế. Hai mươi năm nữa nếu theo đà quan hệ này, theo ý chí của lãnh đạo và nguyện vọng của nhân dân hai nước như thế này, thì Việt Nam và Hàn Quốc nhất định sẽ trở thành đôi bạn, đôi anh em phồn vinh và hùng mạnh trên bờ Thái Bình Dương”.[4]
Theo đà phát triển mạnh mẽ của quan hệ hai nước trong 20 năm qua, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và sâu sắc hơn nữa trong thời gian tới.

Trần Quang Minh*


* . TS. Viện nghiên cứu Đông Bắc Á

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bản tin Kinh tế, TTXVN (nhiều số).
  2. Báo Đầu tư (nhiều số).
  3. Hana, Hợp tác phát triển giữa Hàn Quốc và Việt Nam: Tình hình và triển vọng, luận văn Thạc sĩ tại Trường đại học KHXH và NV, Đại học quốc gia Hà Nội
  4. Korea's ODA Policy Direction, Rae-Kwon Chung, Ministry of Foreign Affairs and Trade, November 5, 2003
  5. Nghĩa tình Việt Nam Hàn quốc, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà nội, 2002.
  6. Tài liệu tham khảo, TTXVN (nhiều số)
  7. Thời báo Kinh tế Việt Nam (nhiều số).
  8. Trần Quang Minh, Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc, Tạp chí Khoa học xã hội, số 6, 2009
  9. Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam:  http://www.mpi.gov.vn/
  10. Website của Bộ Ngoại giao Nam http://www.un.int/vietnam/
  11. Website của Bộ Thương mại Việt Nam: http://www1.mot.gov.vn/tktm/
  12. Website của Tổng cục Thống kê Việt Nam: http://www.gso.gov.vn/



[1] . Việt Nam có nhiều tài nguyên, đang phát triển, có lợi thế về nhân công rẻ lại có tình hình chính trị, xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng tương đối cao, đang tích cực hội nhập quốc tế và khu vực; Hàn Quốc có nền kinh tế đứng hàng thứ 10 trên thế giới, các ngành công nghiệp rất phát triển, có lợi thế về công nghệ, kỹ thuật cao và vốn.
[2] . Tháng 8/2001, nhân chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch nướcViệt Nam Trần Đức Lương, hai bên đã ra tuyên bố chung về lập “Quan hệ Đối tác trong thế kỷ 21”; tiếp đó nhân chuyến thăm Việt nam của Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên tháng 10/2004, hai nước đã thoả thuận nâng quan hệ Việt-Hàn lên thành “Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21”; trong chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 28 đến ngày 31 tháng 5/2009, hai bên đã trao đổi ý kiến sâu rộng về các biện pháp thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển sâu sắc hơn nữa trong thời gian tới, thỏa thuận về nguyên tắc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc lên thành "Đối tác hợp tác chiến lược" vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Đây là một bước ngoặt mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực.  Và gần đây nhất, trong các chuyến thăm Hàn Quốc tháng 11/2011 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tháng 3/2012 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên đã trao đổi và đạt được sự đồng thuận về nhiều biện pháp cụ thể nhằm đưa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên một tầm cao mới.
[3] . Sáng 28/03/2012 dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak,  Bộ trưởng Tài chính Việt Nam Vương Đình Huệ và Bộ trưởng Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc Bahk Jaewan đã ký Biên bản hợp tác trên lĩnh vực tài chính giai đoạn 2013-2015. Chiều ngày 29/03/2012, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Hàn Quốc Kim Hwang-sik, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ và Chủ tịch Ủy ban Dịch vụ Tài chính Hàn Quốc (FSC) Seok Dong Kim đã ký Biên bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực bảo hiểm giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Ủy ban Dịch vụ Tài chính Hàn Quốc. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ và Chủ tịch Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (Korea Eximbank) Dongsoo Kim cũng đã  ký Hiệp định vay Dự án điện mặt trời tỉnh Quảng Bình và Dự án hệ thống xử lý nước thải và thoát nước thành phố Long Xuyên (tỉnh An Giang); Và nhiều hiệp định khác cũng đã được ký kết như: Thỏa thuận về việc tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, Biên bản ghi nhớ về hợp tác xây dựng Vườn ươm Công nghệ quốc gia...

[4] . Như trên

KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC


KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC


Sự đối đầu Đông - Tây mà trung tâm là Mỹ và Liên xô dẫn đến tình trạnh chiến tranh lạnh đã khiến Hàn Quốc theo đuổi quan hệ đối ngoại của mình phù hợp với các quốc gia phương Tây, những quốc gia theo chủ trương dân chủ. Trong những năm sau Chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), cộng đồng quốc tế nhìn nhận Hàn Quốc như một đất nước kiệt quệ do chiến tranh tàn phá. Những hình ảnh đó bắt đầu thay đổi từ năm 1962 khi Đại Hàn Dân Quốc áp dụng chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và bắt đầu tích cực tham gia vào thương mại quốc tế trên toàn thế giới.

Vì sự đối đầu Đông - Tây trở nên sâu sắc trong cuộc Chiến tranh lạnh, Đại Hàn Dân Quốc - một nước vốn được coi là một thành viên của khối phương Tây, bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại thông qua tăng cường các mối quan hệ hợp tác với các nước trong Thế giới thứ ba. Kể từ những năm 1970, hoạt động ngoại giao của Hàn Quốc tập trung vào việc tăng cường độc lập và thống nhất trong hoà bình trên bán đảo Hàn. Hàn Quốc cũng củng cố mối quan hệ với các đồng minh và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế.

Dựa trên nền tảng ngoại giao vững chắc, Hàn Quốc tiếp tục theo đuổi quan hệ đối tác hợp tác với tất cả các nước trên mọi lĩnh vực trong suốt những năm 1980. Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, những biến cố lịch sử tại Đông Âu và Liên bang Nga đã chấm dứt cuộc Chiến tranh lạnh, và Đại Hàn Dân Quốc đã nhanh chóng tận dụng tình hình bằng cách tích cực đẩy mạnh "quan hệ ngoại giao với Phương Bắc".

Trước đây, Hàn Quốc có quan hệ ngoại giao với CHDCND Triều Tiên nhằm góp phần tăng cường quan hệ của nước này với các nước xã hội chủ nghĩa tuy nhiên mối quan hệ này không tiến triển tốt do những khác biệt về tư tưởng và cơ cấu. Quan hệ với Liên bang Nga và Trung Quốc, được bình thường hoá theo một trình tự ngắn hơn, và do đó làm cho quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc thực sự manh tính toàn cầu.Quan hệ Việt Nam - Hàn Quôc được thiết lập tháng 12 năm 1992.Tháng 9 - 1991, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đồng thời gia nhập Liên Hiệp Quốc, sự kiện này thể hiện sự thành công của chính sách ngoại giao với phương Bắc. Ngoài ra, nền tảng cùng tồn tại hoà bình giữa hai miền Triều Tiên đã được đặt ra vào tháng 12-1991 khi cả hai bên ký Hiệp định hoà giải, không xâm lược, trao đổi và hợp tác và Tuyên bố chung về bán đảo Hàn không có vũ khí hạt nhân.

Những văn kiện lịch sử này là nền tảng cho nền hoà bình trên bán đảo và khu vực Đông Bắc Á, thể hbước đầu tiên quan trọng tiến tới hoà bình thống nhất trên bán đảo Hàn.

Ngay sau Chiến tranh lạnh, một khuynh hướng nổi bật đã xuất hiện trong chủ nghĩa khu vực. Các nước như Đại Hàn Dân Quốc- quốc gia theo đuổi tăng trưởng lấy xuất khẩu làm động lực, thấy ràng mình đang phải đối mặt với một môi trường kinh tế quốc tế khác hẳn với trước đây. Hàn Quốc có mối quan hệ thương mại chủ yếu với các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu.

Điều này thường gây ra những sự mất cân đối trong cán cân thương mại. Hàn Quốc tăng dần hoạt động thương mại với các nước đang phát triển trong khi khối lượng giao dịch thương mại với các nước phát triển giảm dần.

Giao dịch thương mại của Hàn Quốc với các nước đang phát triển và các nước Đông Âu sẽ tiếp tục mở rộng trên cơ sở nền kinh tế và thương mại của Hàn Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng và cơ cấu các ngành công nghiệp của quốc gia vẫn tiếp tục tập trung vào các hoạt động sử dụng nhiều công nghệ. Một khi hoàn thành cơ cấu lại công nghiệp, Hàn Quốc sẽ có thể góp phần lớn hơn vào việc phát triển kinh tế bằng cách nâng cao hợp tác với các nước đang phát triển dựa trên cơ sở những lợi thế và sự bổ sung tương đối.

Mặc dù các nước tiến tiến vẫn giữ vị thế then chốt về thương mại và là đối tác chủ yếu trong khoa học công nghệ, Hàn Quốc vẫn phải nỗ lực nhằm hạn chế sức ép bằng cách mở cửa thị trường ở mức độ tương đương mà các nước đang phát triển đang mở, bắt đầu từ sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.

Những vấn đề môi trường toàn cầu như sự suy yếu của tầng ôzôn, sự ấm lên của trái đất và nạn phá rừng, đã trở thành những thách thức mới với nhân loại.

Tháng 6 năm 1992, Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Trái đất - đã giúp Hàn Quốc hiểu hơn thông điệp về sự phát triển kinh tế liên tục nhưng không được làm ảnh hưởng đến môi trường nuôi dưỡng tất cả chúng ta. Người dân Hàn Quốc hết sức tự hào về sự đóng hóp của họ đối với việc thông qua Tuyên ngôn Rio và Chương trinh nghị sự 21. Mục đích của chính sách mới này là tìm kiếm sự kết hợp hài hoà giữa môi trường và phát triển kinh tế, một sự cân bằng giữa thương mại và môi trường cũng như sự tham gia tích cực vào những nỗ lực toàn cầu trong việc bảo vệ môi trường.

Hội nghị bàn tròn tổ chức tại Uruguay về cơ bản đã giải quyết sự cắt giảm đồng bộ các loại thuế quan và dỡ bỏ toàn bộ hàng rạo mậu dịch phi thuế quan, một bước quan trọng trong phong trào thế giới hướng tới tự do thương mại. Hàn Quốc đã đi tiên phong trong việc thực hiện mở cửa thị trường nhằm ủng hộ hệ thống tự do thương mại toàn cầu.

Hàn Quốc ngày nay đã và đang tham dự tích cực vào các tổ chức quốc tế và các hoạt động mang tính toàn cầu.

Thực hiên: Minh Ngọc và nhóm Web

Nguồn: Tài liệu lưu tại TTNCHQ

CƠ HỘI CHUYỂN TỪ XUNG ĐỘT SANG HỢP TÁC


CƠ HỘI CHUYỂN TỪ XUNG ĐỘT SANG HỢP TÁC

Tạp chí Nghiên cứu Hàn Quốc - Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Ban Thư ký về Hợp tác ba bên mở ra tại Seoul dưới ngọn cờ hòa bình và thịnh vượng ở Đông Bắc Á đã được gần một năm, nhưng, thật không may, mối quan hệ song phương giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, giữa Trung Quốc và Nhật Bản hiện đang ở mức tồi tệ nhất từ khi các quốc gia này bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Cả ba nước này đã nhanh chóng thay đổi tình trạng và sức mạnh quốc gia. Một nước thì đang nổi lên nhanh chóng như một thành viên của nhóm G2, trong khi đang tạo ra thách thức đối với trật tự thế giới; một nước thì cảm thấy vị trí thống trị của mình bị đe dọa bởi vị hàng xóm đó, nước thứ ba, một cường quốc mới nổi lên, đang tiếp tục thúc đẩy uy tín toàn cầu của mình.
Trong các mối quan hệ song phương, các mối hiềm khích to lớn có thể bùng phát giữa các quốc gia khi mà những sự thay đổi đó xảy ra và các mâu thuẫn phát sinh có thể bùng phát thành phản ứng dân tộc. A.F.K. Organski (1923-1998), một giáo sư chính trị quốc tế nổi tiếng đã từng nói rằng, trong những trường hợp như vậy, khả năng xảy ra các cuộc xung đột hoặc chiến tranh là rất cao.
May mắn thay, trong thập kỷ qua, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản đã xây dựng mối quan hệ ba bên trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa. Các hội nghị Bộ trưởng trong 18 lĩnh vực, ngoài hai hội nghị thượng đỉnh còn bao gồm các cuộc họp Bộ trưởng ngoại giao hàng năm nữa.
Mười trong số các hội nghị ba bên liên quan đến các vấn đề về kinh tế: thương mại, tài chính, dịch vụ hậu cần, thông tin và truyền thông, thuế hải quan, bằng sáng chế, khoa học và công nghệ, nông nghiệp và nguồn nước. Các quốc gia cũng đang hợp tác trong 100 lĩnh vực, chẳng hạn như các hiệp định thương mại tự do, môi trường, năng lượng và hàng không. Sự hợp tác này không có trong liên minh Hàn Quốc-Mỹ hay liên kết ba bên Hàn Quốc-Mỹ-Nhật bản.
Ban Thư ký về Hợp tác ba bên được thành lập bởi ba nước vào tháng 9 năm ngoái, là một cơ quan thường trực đóng một vai trò then chốt trong mọi diễn đàn ba bên, bao gồm các hội nghị thượng đỉnh, các cuộc đàm phán thương mại và các cuộc họp về quan hệ đối ngoại.
Gần đây, tác giả đã tới thăm Washington, D.C để trao đổi quan điểm về tình hình ở Đông Bắc Á với những người có liên quan tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Viện Brookings và Quỹ Di sản. Tất cả đều bày tỏ sự đồng tình với việc Đông Bắc Á chuyển hướng sang hợp tác và hội nhập, bao gồm cả ban Thư ký Hợp tác Ba bên. Họ quan tâm về việc Seoul, Bắc Kinh và Tokyo đang tăng cường mạng lưới hợp tác của mình. Nói cách khác, Mỹ đang chú ý đến cơ chế hợp tác ba bên như một thực thể quan trọng.
Bây giờ đã đến lúc cả ba nước nên vận hành cơ chế này. Họ nên đến với nhau để cùng thảo luận về việc làm thế nào để giải quyết các tranh chấp song phương đã có từ lâu về lãnh thổ và các vấn đề lịch sử.
Pháp và Đức, hai thành viên chủ chốt của EU đã đạt được một sự hòa giải mang tính lịch sử trong một cuộc họp giữa Tổng thống Pháp Charles de Gaulle và Thủ tướng Tây Đức Konrad Adenauer vào tháng 7 năm 1962, mặc dù họ là kẻ thù của nhau trong hơn hai thế kỷ.
Hàn Quốc sẽ đảm nhận vai trò là chủ tịch của hội nghị thượng đỉnh vào năm sau. Vị trí địa chính trị của quốc qua này là một điều lí tưởng cho các cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản, vốn dĩ đã có mối thù truyền thống. Hàn Quốc có thể sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc hòa giải và mở ra một kỷ nguyên mới. Ba quốc gia Đông Bắc Á không chỉ là một nhóm khu vực nữa mà là một tiêu điểm của quốc tế.
Họ cho rằng, khủng hoảng là một cơ hội. Đây là lí do mà Seoul, Bắc Kinh và Tokyo có thể chuyển các cuộc xung đột hiện tại thành một cơ hội để mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự hợp tác.
Lê Minh Đông – Trung tâm Bắc Á - Viện NC Đông Bắc Á

Cục diện mới trong quan hệ quốc tế


Cục diện mới trong quan hệ quốc tế

(HNM) - Trước những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới, Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latin - Caribe và Liên minh Châu Âu lần thứ nhất (CELAC-EU) vừa bế mạc tại thủ đô Santiago (Chile) đã đưa ra nhiều giải pháp cho các vấn đề kinh tế toàn cầu; đồng thời tạo cơ hội để hai bên hướng tới quan hệ hợp tác bình đẳng và bền vững.
 
Phiên họp toàn thể Hội nghị Thượng đỉnh CELAC - EU tại thủ đô Santiago (Chile) cuối tuần qua.
Phiên họp toàn thể Hội nghị Thượng đỉnh CELAC - EU tại thủ đô Santiago (Chile) cuối tuần qua.

Với chủ đề "Liên minh vì sự phát triển bền vững thông qua thúc đẩy đầu tư xã hội và môi trường có chất lượng", Hội nghị CELAC-EU tại xứ Quả ớt quy tụ hơn 40 nhà lãnh đạo quốc gia ở cả hai châu lục, cùng ban lãnh đạo EU và đại diện một số tổ chức khu vực và quốc tế. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa EU gồm 27 thành viên với CELAC - tổ chức mới được thành lập hồi tháng 12-2011 gồm tất cả các nước Châu Mỹ, trừ Mỹ và Canada - nhằm thúc đẩy thương mại khu vực và hợp tác về mặt thể chế. Thực tế, quan hệ EU - Mỹ Latin dù có cội nguồn từ nhiều thế kỷ trước nhưng chỉ thật sự cởi mở và phát triển vào nửa cuối thế kỷ XX. Với những cải cách tiến bộ trong hơn nửa thế kỷ qua, Mỹ Latin đã trở thành một đầu cầu của nền kinh tế thế giới và đang tìm tới những đối tác mới. Và, Châu Âu như một "duyên nợ" lịch sử đã trở thành một đối tác tất yếu. Do đó, cuộc gặp CELAC-EU có thể nói đã diễn ra đúng lúc trong bối cảnh một Châu Âu khủng hoảng đang tác động tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, Mỹ Latin không chỉ đứng ngoài "tâm bão" suy thoái mà còn có nền kinh tế phát triển tốt hơn nhiều so với một EU đang chìm trong khủng hoảng.

Trước đây, mỗi lần có cuộc gặp cấp cao giữa EU với các tổ chức hợp tác và liên kết khu vực khác, trong đó có Mỹ Latin - với tư cách là một tập hợp các quốc gia đang phát triển - thì câu hỏi quen thuộc là Châu Âu giúp, viện trợ gì cho các nước? Nhưng, giờ đây, mọi thứ đang thay đổi khi chính EU đang cần sự hợp tác và hậu thuẫn của các tổ chức, khu vực trên toàn cầu để vượt qua khó khăn. Kinh tế các nước Mỹ Latin dự kiến tăng trưởng 4% trong năm nay và GDP của các nước Mỹ Latin có thể tăng gấp đôi từ nay tới năm 2030 - trong khi đó với EU, dự kiến là tăng trưởng âm. Thành công của các nước Mỹ Latin và Caribe được cho là đã rút ra nhiều bài học từ quá khứ như: áp dụng kinh tế vĩ mô thận trọng và tăng cường chính sách xã hội tiến bộ. Đây là điều trái ngược với các nước EU, nơi người ta đang đổ lỗi "khủng hoảng" lên "tội đồ" mang tên: quỹ phúc lợi xã hội. Rõ ràng cuộc khủng hoảng nợ công đang hoành hành tại Châu Âu đã làm thay đổi nhãn quan của EU với Mỹ Latin. Hiện tại EU coi Mỹ Latin như một đối tác chiến lược bình đẳng và là một khu vực có thể giúp Lục địa già giải quyết khó khăn. Theo Ngoại trưởng Chile Rafael Moreno, đây là lần đầu tiên Mỹ Latin có một vị thế đặc biệt giúp Châu Âu tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề kinh tế. Còn các nhà lãnh đạo Châu Âu không thể nói khác rằng, họ rất cần Mỹ Latin vào thời điểm này để vực dậy nền kinh tế đang lao đao. Giá trị giao thương giữa EU và Mỹ Latin tăng gấp đôi trong 10 năm qua, đạt 200 tỷ euro vào năm 2012. Châu Âu hiện là nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu tại khu vực Mỹ Latin và Caribe. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển hợp tác kinh tế giữa hai khu vực là rất lớn. Nhiều nhà lãnh đạo Châu Âu hy vọng, cuộc tập hợp CELAC-EU có thể giúp thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ hơn với khu vực Mỹ Latin giàu tiềm năng.

Cuộc gặp cấp cao đầu tiên giữa hai khu vực có mối quan hệ từ sâu trong quá khứ đã phản ánh rõ sự thay đổi thế thời trong cục diện quan hệ quốc tế hiện đại. Hai bên đang bước vào kỷ nguyên hợp tác mới, thúc đẩy mối quan hệ dựa trên nền tảng giảm viện trợ vật chất và tăng hợp tác bình đẳng hơn trong nhiều lĩnh vực.