Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

Quan hệ Trung-Mỹ và “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương


Quan hệ Trung-Mỹ và “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương


Kể từ đầu thế kỷ 21, quan hệ Trung-Mỹ và quan hệ quốc tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều nảy sinh một số thay đổi có ý nghĩa quan trọng. Điều đặc biệt đáng chú ý là trong quan hệ quốc tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã xuất hiện một mô hình lãnh đạo mới, đó là “cơ chế lãnh đạo kép”.

Trên lĩnh vực kinh tế, thương mại và tiền tệ quốc tế, Trung Quốc đã dần dần nâng cao địa vị của mình, và bắt đầu đóng vai trò lãnh đạo quan trọng, còn Mỹ bị rơi vào cảnh khó khăn về kinh tế bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Nhưng trên lĩnh vực quân sự, an ninh và chính trị, Mỹ vẫn giữ địa vị bá quyền của mình. Ảnh hưởng của Mỹ trên những mặt này vẫn đứng đầu và vượt xa so với tất cả các nước lớn khác bao gồm cả Trung Quốc. “Cơ chế lãnh đạo kép” đang hình thành này là một mô hình phát triển không đồng đều giữa Trung Quốc và Mỹ trong các lĩnh vực khác nhau, vừa phản ánh thành tựu phát triển nhanh chóng về kinh tế cũng như sự mở rộng về ảnh hưởng trong gần 30 năm qua của Trung Quốc, đồng thời cũng xác nhận lại địa vị lãnh đạo đã sớm được xác lập trong các công việc quốc tế của Mỹ từ khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc đến nay. Có thể nói, sự xuất hiện của “cơ chế lãnh đạo kép” trước tiên đã phản ánh xu thế mới nhất của việc Trung Quốc trỗi dậy, đặc biệt là những ảnh hưởng do sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, liên tục của Trung Quốc đưa tới. Trái lại, Mỹ bị suy thoái kinh tế do cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 gây ra, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, liên tục của Trung Quốc đang làm thay đổi ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Việc Trung Quốc giúp khu vực châu Á-Thái Bình Dương thoát khỏi bóng đen của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, duy trì một cách thành công ổn định kinh tế khu vực, đây chính là ví dụ chứng minh Trung Quốc đang phát huy ảnh hưởng của mình. Bên cạnh đó, địa vị dẫn đầu của Mỹ trên các lĩnh vực quân sự, an ninh và chính trị, cũng khiến Mỹ có thể tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của mình ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hiện tượng Trung Quốc và Mỹ đều tỏ rõ ưu thế của mình và phát huy vai trò lãnh đạo khác nhau, vừa có tác dụng kiềm chế và cân bằng lẫn nhau, vừa trở thành nền tảng cho sự ổn định khu vực. 
Một số nhà lý luận theo trường phái hiện thực có thể sẽ coi hiện tượng mới này là thể chế hai cực hoặc sự cân bằng quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ. Nhưng trên thực tế, khái niệm về “cơ chế lãnh đạo kép” này khác với thể chế hai cực, cơ chế lãnh đạo kép nhấn mạnh những ưu thế khác nhau mà hai nước lớn đã thể hiện trong tình hình nền tảng sức mạnh không đối xứng. Nói cách khác, Trung Quốc vẫn chưa đạt đến mức có thể thách thức một cách toàn diện địa vị lãnh đạo của Mỹ. Trung Quốc chỉ có thể tăng cường ảnh hưởng trên lĩnh vực kinh tế mà thôi. Mặc dù xu thế này cuối cùng sẽ tăng cường sức mạnh cứng của Trung Quốc trên lĩnh vực quân sự, an ninh và quyền phát ngôn trong lĩnh vực chính trị, nhưng quá trình chuyển dịch quyền lực này không thể thực hiện trong một sớm một chiều, mà kết quả của nó thường rất khó dự đoán. Nhìn bề ngoài, khái niệm “cơ chế lãnh đạo kép” này có những điểm chung với khái niệm “nhóm hai nước” (G2) và “cùng chia sẻ quyền lực”, nhưng từ lý luận và hiện thực cho thấy hai khái niệm này có sự khác biệt rất lớn. Với tư cách là nhà khởi xướng tích cực của khái niệm “nhóm hai nước”, Zbigniew Brzezinski cho rằng “ Trung Quốc và Mỹ đã hình thành mối quan hệ đối tác toàn diện trên phương diện toàn cầu”. Sự khác nhau giữa hai khái niệm này là khái niệm “cơ chế lãnh đạo kép” quan tâm đến cục diện mới xuất hiện ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khái niệm này nhấn mạnh vai trò lãnh đạo khác nhau mà Mỹ và Trung Quốc đang phát huy trong các lĩnh vực khác nhau. Cụ thể là Mỹ và Trung Quốc đang lần lượt phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực an ninh quân sự và lĩnh vực kinh tế thương mại ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều cần chỉ ra là cục diện mới hiện đang hình thành ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương về cơ bản vẫn chưa thể thay đổi được cục diện cơ bản của chính trị toàn cầu. Trên vũ đài thế giới, địa vị của Mỹ với tư cách là nước lớn siêu cường duy nhất vẫn không thay đổi, và trong giai đoạn hiện nay, Trung Quốc vẫn là một trong vài nước lớn có ảnh hưởng lớn chỉ sau Mỹ. 
Những biểu hiện khác nhau của Trung Quốc và Mỹ trên lĩnh vực kinh tế thương mại và an ninh quân sự, cũng được thể hiện trong nhận thức của công chúng. Gần đây, Trung tâm nghiên cứu Pew đã công bố kết quả điều tra về quan điểm của công chúng Mỹ đối với ảnh hưởng của các nước lớn trên toàn cầu. Năm 2008, 41% người Mỹ được hỏi cho rằng Mỹ chiếm địa vị chủ đạo trong nền kinh tế thế giới, ở thời điểm đó chỉ có 30% người được hỏi coi Trung Quốc là lực lượng chủ đạo của nền kinh tế thế giới. Còn đến năm 2011, “gần một nửa (47%) người Mỹ được hỏi coi Trung Quốc là lực lượng chủ đạo của nền kinh tế thế giới, và chỉ có 31% người Mỹ cho rằng Mỹ là lực lượng chủ đạo của nền kinh tế thế giới”. Một cuộc điều tra tương tự của Gallup cũng đã phản ánh xu thế như vậy. Trong năm 2012, 53% dân chúng Mỹ được hỏi cho rằng Trung Quốc đang phát huy vai trò lãnh đạo trong các công việc kinh tế thế giới, chỉ có 33% người Mỹ cho rằng Mỹ phát huy vai trò lãnh đạo trong các công việc kinh tế thế giới, và 7% cho rằng là Nhật Bản. Nguồn gốc của những thay đổi trong nhận thức của công chúng là do Trung Quốc đã vượt qua một cách thành công cuộc khủng hoảng tài chính, còn Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) vẫn lún sâu vào khủng hoảng. Điều này cho thấy trong lĩnh vực kinh tế và thương mại, ngày càng nhiều người bắt đầu quan tâm đến tiếng nói của Trung Quốc. Bên cạnh đó, tầm quan trọng của Trung Quốc trong các tổ chức quốc tế (như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)) cũng ngày càng tăng lên. Ví dụ, tháng 3/2011, IMF thông qua một nghị quyết, quyết định gia tăng quyền bỏ phiếu của Trung Quốc, từ đó khiến cho Trung Quốc trở thành nước thành viên lớn thứ ba của tổ chức này. Đồng thời mức độ dựa vào thị trường tiền tệ và thương mại của TrungQu ốc của các thể kinh tế xung quanh TrungQu ốc không ngừng tăng lên cũng khiến cho xu thế này ngày càng được thể hiện rõ nét ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 
Sự xuất hiện của “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương là một bước quan trọng của việc chuyển dịch quyền lực trong hệ thống quốc tế hiện nay. Lý luận chuyển dịch quyền lực cho rằng mức độ thỏa mãn của các nước lớn đang trỗi dậy đối với hệ thống quốc tế hiện nay sẽ quyết định việc quyền lực sẽ chuyển dịch hòa bình hay là đối kháng gay gắt giữa nước lớn đang trỗi dậy với nước đang giữ bá quyền; khi mối quan hệ giữa nước đang trỗi dậy với nước đang giữ bá quyền ở thời kỳ gần cân bằng và ngang nhau, thì dễ xảy ra xung đột nhất. Lịch sử cho thấy khi một nước đang trỗi dậy tạo nên mối đe dọa đối với nước bá quyền đang chiếm địa vị chủ đạo thì có thể nổ ra chiến tranh. Nhưng việc thông qua phương thức hòa bình để thực hiện sự chuyển dịch quyền lực giữa các nước lớn cũng từng có trong tiền lệ. Những năm gần đây, việc triển khai hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ đã tăng lên, nhưng đồng thời khả năng xảy ra xung đột tiềm tàng giữa hai nước cũng tăng lên. Sự xuất hiện của “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã tạo ra một mô hình mới để điều tiết quan hệ hai nước và thúc đẩy hợp tác song phương trong quá trình chuyển dịch quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ, đồng thời cũng tăng cường sự hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ với các nước chủ yếu khác trong khu vực (như Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên và ASEAN), từ đó tạo điều kiện tất yếu để tránh xảy ra xung đột quân sự trên quy mô lớn. 

1. Thế nào gọi là vai trò chủ đạo 

Muốn xác định rõ việc một quốc gia có phát huy được vai trò chủ đạo trong các công việc quốc tế hay không, thông thường phải có 5 yếu tố cơ bản sau:
(1) Quốc gia này có ảnh hưởng và thực lực mang tính quyết định trong một hoặc nhiều lĩnh vực; (2) Quốc gia này phải có khả năng bố trí và cung cấp các hàng hóa công cộng trong thời kỳ hòa bình và khủng hoảng; (3) Quốc gia này phải phát huy được vai trò quyết sách trong việc chế định các quy tắc và biên soạn các chương trình nghị sự; (4) Quốc gia này phải chiếm địa vị chủ đạo trong các tổ chức quốc tế chủ yếu (như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng thế giới); (5) Quốc gia này phải ở tầm cao đạo đức. Địa vị lãnh đạo của một nước và nhận thức của bên ngoài đối với ảnh hưởng của nước đó có liên quan mật thiết với nhau. Trong nhiều trường hợp, thực lực của một nước có lẽ vẫn không đủ để thay đổi vị trí tương đối của mình trong hệ thống quốc tế, nhưng nhận thức của các nước khác đối với địa vị lãnh đạo của nước này lại có thể vượt quá khả năng toan tính của chính nước đó, trở thành một chỉ tiêu đánh giá vô cùng quan trọng. Vì các nước khác sẽ quan tâm một cách nghiêm túc hơn sự theo đuổi của nước này, đồng thời sẽ chuyển sự quan tâm này thành ảnh hưởng của nước đó trong các công việc quốc tế. Chẳng hạn như, mặc dù EU vẫn chưa xác định được việc Trung Quốc có khả năng trợ giúp cho cuộc khủng hoảng nợ châu Âu xuất hiện gần đây hay không, nhưng những nhận thức đối với thực lực kinh tế của Trung Quốc khiến cho EU có kỳ vọng rất lớn đối với việc Trung Quốc có thể trợ giúp Khu vực đồng euro, tái phục hồi kinh tế châu Âu. Từ góc độ này cho thấy địa vị lãnh đạo của “cơ chế lãnh đạo kép” là chỉ ảnh hưởng của một nước lớn mà các nước khác có thể cảm nhận được trên một lĩnh vực nào đó, nhưng điều này không có nghĩa là nước lớn này đã có địa vị lãnh đạo trên thực tế. 
Từ ý nghĩa này cho thấy chúng ta phải nhận thức một cách tỉnh táo rằng nếu dựa theo 5 yếu tố trên để đánh giá thì Trung Quốc còn chưa có địa vị lãnh đạo. Cũng có nghĩa là Trung Quốc vẫn còn chưa giành được địa vị ngang bằng với Mỹ. Điều cần phải nhấn mạnh là ảnh hưởng của Trung Quốc trên lĩnh vực kinh tế thương mại và tiền tệ đã tăng lên rất nhiều, những thành tựu mà Trung Quốc đã giành được trên lĩnh vực kinh tế bắt đầu được các nước xung quanh công nhận, bắt đầu phát huy vai trò lãnh đạo trên lĩnh vực này. Nhưng việc Trung Quốc muốn trở thành nước lãnh đạo toàn diện của khu vực châu Á-Thái Bình Dương hoặc trên toàn cầu, thì vẫn còn phải đi một chặng đường rất dài. Hiện nay, vẫn không thể dự đoán đến khi nào Trung Quốc có thể đạt đến giai đoạn này, vì còn có rất nhiều nhân tố khó lường ảnh hưởng đến sự phát triển của Trung Quốc. Cho nên, bài viết này không định dựa theo 5 yếu tố nêu trên để phân tích địa vị của Trung Quốc hiện nay như thế nào, mà đặt trọng điểm cần trình bày vào những thay đổi về phân bố quyền lực trên lĩnh vực kinh tế và quân sự chính trị theo nghĩa rộng, từ đó thể hiện rõ những động thái mới nhất của sự chuyển dịch quyền lực đang xảy ra hiện nay. Điều cần phải chỉ ra là khái niệm “cơ chế lãnh đạo kép” đã phản ánh xu thế phát triển đang nổi lên ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và nhận thức của các nước liên quan, chứ không đưa ra dự báo đối với tương lai. Cho dù trên lĩnh vực kinh tế, thực lực kinh tế của Trung Quốc thực chất cũng còn kém xa so với Mỹ; hơn nữa sự phát triển của Trung Quốc còn tồn tại một số khiếm khuyết, điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng bền vững của kinh tế Trung Quốc. Cho nên, khái niệm “cơ chế lãnh đạo kép” tập trung nhắc nhở mọi người quan tâm đến các xu thế phát triển khác nhau xuất hiện trong các lĩnh vực kinh tế và an ninh quân sự hiện nay, từ đó có sự chuẩn bị trước cho những thay đổi có thể nảy sinh trong tương lai. Những điều mà dưới đây muốn phân tích chính là thế mạnh và thế yếu của Trung Quốc và Mỹ trong các lĩnh vực khác nhau. 
Trong “cơ chế lãnh đạo kép”, sự điều tiết và hợp tác giữa hai nước lớn đứng đầu là nhân tố then chốt quyết định liệu cơ chế này có thể thành công hay không? Một số học giả quan hệ quốc tế cũng tiến hành nghiên cứu về điều này. Theo quan điểm của Robert Keohane, “Hợp tác... đòi hỏi hành vi của cá nhân hoặc tổ chức của bên này, thông qua phương thức điều tiết chính sách để đạt được sự nhất trí với bên kia”; “điều này cho thấy khi đang ở trong trạng thái hợp tác, bên này sẽ dựa theo các hành vi có thể đưa ra của bên kia để điều chỉnh tương ứng các hành vi của mình... điều mà hợp tác thực sự đem đến cho hai bên phải là cục diện hai bên cùng thắng lợi”. Robert Keohane nêu rõ hợp tác hoặc nói là hai nước lớn cùng nỗ lực để đạt được một cục diện cùng thắng lợi, không nên lẫn lộn với khái niệm hài hòa. “Hài hòa là chính sách của bên này (theo đuổi lợi ích bản thân) đã thúc đẩy một cách tự nhiên việc đạt được mục tiêu chính sách của bên kia... khi hai nước này ở trạng thái hài hòa, hợp tác là không cần thiết”. Trong quan hệ Trung-Mỹ, hợp tác là cần thiết, và việc hai bên có thể hợp tác được hay không là nhân tố mang tính quyết định đối với việc chuyển dịch quyền lực liệu có thể được thực hiện một cách hòa bình hay không? Trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, giữa các nước lớn tư bản chủ nghĩa đã xây dựng sự hợp tác với hình thức thể cộng đồng an ninh, tình hình này cho thấy hợp tác có thể trở thành mô hình trong quan hệ song phương hoặc đa phương giữa các nước lớn. Đúng như William Olson từng nói “đặc điểm chủ yếu của thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh là (sự trưởng thành của) thể cộng đồng an ninh giữa các nước lớn tư bản chủ nghĩa, điều này cho thấy rất nhiều nước không muốn hoặc không chuẩn bị sử dụng vũ lực trong khi xử lý các mối quan hệ”. Thể cộng đồng an ninh có nghĩa là sử dụng biện pháp mang tính quy phạm trong nội bộ cộng đồng để tránh xảy ra xung đột. Còn quan hệ đồng minh hoặc các tổ chức mang tính phòng ngự khác được hình thành do xuất phát từ sự cảm nhận chung về các mối đe dọa bên ngoài của các nước, chứ không lấy việc giảm thiểu xung đột vũ trang làm ý nguyện ban đầu. Cùng với việc kinh tế tăng trưởng liên tục, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong đàm phán quốc tế cũng đang tăng lên, điều này có nghĩa là khi đàm phán với Mỹ, Trung Quốc có thể có tư thế bình đẳng hơn để mặc cả với Mỹ, điều này cũng làm tăng khả năng thỏa hiệp và hiểu biết giữa hai bên.
Dưới “cơ chế lãnh đạo kép”, việc Trung Quốc và Mỹ tiếp tục triển khai trao đổi, có thể đem đến một diễn đàn mang tính quy phạm cho việc xây dựng thể cộng đồng an ninh có hiệu quả hơn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương do Trung Quốc và Mỹ làm hạt nhân. Trong “cơ chế lãnh đạo kép” đang hình thành này, xu thế hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ là điều tất yếu. James Dougherty và Robert Pfaltzgraff cho rằng: “Hợp tác giữa các nước có thể thực hiện giữa một bên tương đối mạnh với một bên tương đối yếu”. Từ quan điểm này cho thấy mặc dù giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn còn sự chênh lệch về sức mạnh quốc gia, nhưng cùng sự chênh lệch giữa hai nước ngày càng thu hẹp, hợp tác giữa hai nước sẽ càng trở nên quan trọng. Bên cạnh việc nghiên cứu khái niệm “nước lãnh đạo”, chúng ta cần bàn một chút về khái niệm “nước bị lãnh đạo”, cho dù nước bị lãnh đạo miễn cưỡng lựa chọn hay là bị ép buộc theo nước lãnh đạo. Trong trật tự quốc tế, địa vị của nước lãnh đạo vừa không phải tự phong, vừa không phải bầu ra, mà là được hình thành một cách tự nhiên. Cũng có nghĩa là nước lớn luôn có nước bám theo mình. Vì vậy, mỗi nước lớn đều có cơ hội phát huy vai trò lãnh đạo trên một số lĩnh vực nào đó. “Cơ chế lãnh đạo kép” khác với “trò chơi được mất ngang nhau” trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cơ chế này thể hiện sự thỏa hiệp và điều tiết không ngừng giữa hai nước lớn, đồng thời trong một số trường hợp cùng đóng vai trò nước lãnh đạo. Vì vậy, “cơ chế lãnh đạo kép” là cơ chế vừa có sự hợp tác vừa giúp cho việc giải quyết tranh chấp, cơ chế này phản ánh những cố gắng của hai nước lớn lần lượt phát huy vai trò lãnh đạo trên lĩnh vực kinh tế và quân sự chính trị để hy vọng thực hiện việc hai bên cùng thắng lợi, tránh xuất hiện “trò chơi được mất ngang nhau”. 
2. Vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trên lĩnh vực kinh tế, thương mại và tiền tệ 
Tình hình kinh tế là một chỉ tiêu quan trọng có thể phản ánh một cách nhanh nhất cục diện thế giới đang thay đổi. Trong mấy chục năm qua, trung tâm kinh tế thế giới dần dần chuyển từ khu vực Đại Tây Dương sang khu vực Thái Bình Dương. Với tư cách là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Đông Á, kinh tế Trung Quốc học tập mô hình phát triển của Nhật Bản từ những năm 1950 đến năm 1980 và đã giành được sự tăng trưởng chưa từng có trong lịch sử. Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc vượt Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Mặc dù riêng chỉ tiêu GDP không đủ để phản ánh thực lực kinh tế của một quốc gia, nhưng những ảnh hưởng của sự thay đổi này đối với công việc quốc tế là rất sâu sắc. Cho dù triển vọng phát triển của kinh tế Trung Quốc luôn bị tuyên truyền méo mó, nhưng trên thực tế nó vẫn duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ. Có dự đoán cho rằng trong tương lai không xa, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Không ít công chúng Mỹ cũng nhận định như vậy. Nhưng giới chính trị và kinh doanh trong và ngoài nước vẫn có nhiều ý kiến khác nhau, mỗi người có một cách nhìn nhận riêng đối với việc Trung Quốc có thể hoặc khi nào vượt Mỹ một cách toàn diện. Đương nhiên, chúng ta cũng có thể nhận thấy cho dù trên lĩnh vực kinh tế, thì thực lực giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn có sự chênh lệch rất lớn. GDP của Trung Quốc không bằng 40% của Mỹ, còn thu nhập bình quân đầu người bằng 1/ 13 của Mỹ (theo số liệu năm 2009). Ngoài ra, không ai có thể phủ nhận Trung Quốc còn đang đứng trước một loạt vấn đề trong nước nghiêm trọng, bao gồm bong bóng kinh tế tiềm tàng, ô nhiễm môi trường, sự bất mãn xã hội và tình trạng tham nhũng.... Những điều này đều có thể trở thành nhân tố làm giảm, thậm chí cản trở sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong tương lai. Đồng thời, ảnh hưởng của Trung Quốc trong các tổ chức quốc tế bao gồm cả Ngân hàng thế giới cũng kém xa Mỹ. Một khi đã như vậy, tại sao còn nói Trung Quốc đóng vai trò lãnh đạo trên lĩnh vực kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương? Trước tiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cao hơn Mỹ nhiều. Trong gần 30 năm, tức là từ năm 1980 đến năm 2009, tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Mỹ là 2,7%, còn Trung Quốc duy trì ở mức 10%. Mặc dù trong vài năm tới, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc đứng trước một loạt thách thức, nhưng theo đánh giá của một chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của kinh tế Trung Quốc vẫn sẽ giữ ở mức khoảng 7%. Điều này có nghĩa là đến năm 2030, GDP của Trung Quốc sẽ chiếm 20% GDP toàn thế giới, còn GDP của Mỹ giảm xuống và chiếm không đến 15%. 
Thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đủ để cung cấp các hàng hóa cộng cộng quan trọng cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương thậm chí toàn thế giới. Trung Quốc đã đóng vai trò đầu tàu trong quá trình khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, thúc đẩy kinh tế thế giới phục hồi. Trên mức độ rất lớn, sự tăng trưởng và phục hồi của kinh tế thế giới phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế và đầu tư của Trung Quốc. Trong 10 năm đầu thế kỷ 21, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chiếm đến 22% tăng trưởng kinh tế thế giới, trong khi đó Mỹ chỉ chiếm 17%. Năm 2011, những đóng góp của người tiêu dùng Trung Quốc đối với tăng trưởng kinh tế thế giới lần đầu tiên vượt Mỹ. Tháng 11/2011, hai bản báo cáo điều tra của công ty tư vấn hàng đầu thế giới McKinsey và Steamboat cho thấy ngày càng nhiều người tiêu dùng Trung Quốc bắt đầu thích hàng hóa nước ngoài, bao gồm thực phẩm và các mặt hàng nhập khẩu khác. Việc người tiêu dùng Trung Quốc tạo ra nhiều nhu cầu hơn cho thị trường khu vực và toàn cầu, đang ngày càng trở thành nguồn gốc của sự phồn vinh và ổn định. Từ đó có thể thấy cho dù là trên lĩnh vực sản xuất, đầu tư hay tiêu dùng, Trung Quốc đều trở thành một trong những động lực chủ yếu nhất của tăng trưởng kinh tế thế giới. Trung Quốc còn là nước chủ nợ lớn nhất trên thế giới, giữ 20,8% trái phiếu chính phủ Mỹ. Do nắm giữ lượng lớn trái phiếu chính phủ Mỹ, nên kinh tế Trung Quốc đã liên kết cao độ với kinh tế Mỹ, điều này cũng khiến cho Trung Quốc và Mỹ có sự nhạy cảm khác thường đối với những thay đổi về kinh tế chính trị của đối phương. Ví dụ như, mùa Hè năm 2011, do cục diện chính trị đảng phái bế tắc nghiêm trọng, Chính phủ Mỹ từng có lúc đứng trước cục diện không có cách nào nâng cao giới hạn mức trần nợ công của mình, điều này có nghĩa là Mỹ không có khả năng hoàn trả các món nợ. Tuy cuối cùng Chính phủ Mỹ đã nâng mức trần nợ công và tránh được khủng hoảng, nhưng sự kiện này cho thấy sự yếu kém của kinh tế Mỹ bao gồm cả vấn đề trái phiếu chính phủ, còn Trung Quốc đang là nước đầu tư chủ yếu của những trái phiếu này. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) nêu rõ nếu chưa trả hết nợ, thì lòng tin của người tiêu dùng trong nước Mỹ sẽ nảy sinh dao động, từ đó hạ thấp hơn nữa nhu cầu của họ đối với các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc, đồng thời tăng áp lực về sự không gắn kết giữa đồng nhân dân tệ với đồng USD, và điều này lại ảnh hưởng đến lòng tin của Trung Quốc đối với việc Chính phủ Mỹ thực hiện những cam kết trong tương lai. 
Sau khi hãng Standard & Poor’s hạ thấp xếp hạng tín dụng dài hạn Mỹ, một biểu hiện khác mang tính yếu kém tiềm tàng của kinh tế Mỹ cũng bắt đầu bộc lộ. Tháng 8/2011, Standard & Poor’s lần đầu tiên điều tra đánh giá xếp hạng tín dụng dài hạn của Mỹ, hạ từ mức AAA xuống AA+, điều này rất có thể ảnh hưởng đến lòng tin của các nhà đầu tư đối với trái phiếu chính phủ Mỹ. Vào hôm thứ hai sau khi Standard & Poor’s hạ thấp xếp hạng tín dụng dài hạn Mỹ, chỉ số bình quân công nghiệp Down Jones giảm 5,6 %, đây là lần giảm mạnh nhất từ cao trào cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đến nay. Sự kiện này càng khiến cho các nhà đầu tư và học giả kinh tế thêm lo ngại. Không ít người lo ngại kinh tế Mỹ đang đi vào cuộc suy thoái kép. Nếu kinh tế Mỹ trì trệ, thì từ góc độ chính trị cho thấy Chính phủ Mỹ sẽ khó có thể ban hành kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai hoặc áp dụng các biện pháp khác để phục hồi kinh tế. Cuộc khủng hoảng về mức trần nợ công của Mỹ cho thấy bất kỳ biện pháp nào làm tăng nợ công của Mỹ như kế hoạch kích thích kinh tế của Mỹ, đều khó có thể nhận được sự ủng hộ của hai đảng trong Quốc hội. Mặc dù việc đánh giá những ảnh hưởng do sự kiện này gây ra vẫn còn là quá sớm, nhưng cuộc khủng hoảng này và tình trạng tương tự xuất hiện trong tương lai, đều có thể khiến cho Trung Quốc phân tán sự đầu tư của mình. Trong tương lai có thể dự đoán, cho dù kinh tế Mỹ tiếp tục xấu đi hay là phục hồi, nhưng có một điểm có thể khẳng định đó là quyền phát ngôn của Trung Quốc trong các công việc kinh tế quốc tế sẽ phát triển theo hướng không ngừng tăng lên. 
Trên lĩnh vực tiền tệ, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đứng đầu thế giới, nhiều hơn so với dự trữ của Nhật Bản đứng thứ hai và ASEAN đứng thứ ba cộng lại. Không chỉ có vậy, việc buôn bán với Trung Quốc đều chiếm vị trí hàng đầu trong ngoại thương của nhiều thể kinh tế châu Á-Thái Bình Dương như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, ASEAN và Ôxtrâylia…, còn chiếm vị trí hàng đầu trong ngoại thương với Mỹ chỉ có hai nước láng giềng là Canađa và Mêhicô. Các nước ở Đông Á, Châu Đại Dương và Nam Á đang ngày càng phụ thuộc vào mối quan hệ mậu dịch với Trung Quốc, Trung Quốc cũng đang trở thành đối tác thương mại rất quan trọng của các nước trên thế giới. Trung Quốc vẫn giữ vị trí thứ hai về tổng mức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ sau Mỹ. Rất nhiều công ty Mỹ, chẳng hạn như công ty Wal-Mart (WMT) đều liên tiếp đầu tư vốn vào thị trường Trung Quốc. Tính đến tháng 5/2011, Wal-Mart có tới 90.000 nhân viên làm thuê tại Trung Quốc, doanh số bán hàng hàng năm đạt 7 tỷ USD. Ngoài ra, kim ngạch đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc cũng đang tăng lên không ngừng, đặc biệt là việc đầu tư vào các nước đang phát triển. Mặc dù vẫn kém xa so với nước đứng đầu là Mỹ, nhưng kim ngạch đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc đang tăng lên nhanh chóng, nếu gộp cả những đóng góp đầu tư của Hồng Công, xu thế này càng rõ rệt hơn. Trung Quốc đã trở thành nước đầu tư vào châu Phi chủ yếu, đặc biệt là cơ sở hạ tầng và một số dự án phát triển khác. Tờ “ Financial Times ” của Anh ngày 17/1/2011 đưa tin: “Trong năm 2009 và năm 2010, Ngân hàng phát triển Trung Quốc và Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc đã phê chuẩn khoản vay ít nhất là 110 tỷ USD dành cho các doanh nghiệp và Chính phủ các nước đang phát triển. Từ giữa năm 2008 đến năm 2010, để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, Ngân hàng thế giới đã cho vay 100,3 tỷ USD, đây là lần cho vay lớn nhất trong nhiều năm qua”. 
Trung Quốc cũng lợi dụng thực lực kinh tế của mình, thông qua việc ký các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực để lãnh đạo và thúc đẩy việc xây dựng trật tự kinh tế khu vực. Đúng như Viện trưởng Viện khoa học xã hội Trung Quốc Trương U ẩn Lãnh từng nêu rõ hiệp định thương mại tự do “có thể thúc đẩy một cách có hiệu quả sự quản lý giữa các thể kinh tế và trong hệ thống khu vực”. Trung Quốc đã ký một loạt hiệp định thương mại tự do mang tính song phương và khu vực với các nước xung quanh và khu vực, trong đó bao gồm Khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN được thành lập năm 2010, “Thỏa thuận giữa Trung Quốc Đại Lục và Hồng Công về việc xây dựng quan hệ kinh tế thương mại chặt chẽ hơn” có hiệu lực năm 2003, “Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-Pakixtan” có hiệu lực năm 2007, “Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-Niu Dilân” có hiệu lực năm 2008, cũng như “Hiệp định khung hợp tác kinh tế hai bờ eo biển Đài Loan” có hiệu lực đầu năm 2010…. Tóm lại, do các nước châu Á khác vừa cần có sự đầu tư của Trung Quốc, vừa cần có đối tác hợp tác quan trọng là Trung Quốc, điều này sẽ khiến cho Trung Quốc có ảnh hưởng khu vực rõ rệt. Thông qua việc trở thành đối tác thương mại của nước khác, nắm giữ lượng lớn ngoại hối bao gồm trái phiếu Mỹ, cũng như kim ngạch đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng tăng, đã khiến Trung Quốc đang thu hẹp khoảng cách về kinh tế với Mỹ. 
Bài viết không xem nhẹ những thách thức mà kinh tế Trung Quốc đang phải đối diện, trong đó bao gồm tham nhũng, ô nhiêm môi trường, sự phát triển không đồng đều giữa ven biển và nội địa, sáng tạo khoa học kỹ thuật chưa mạnh.... Nhưng chúng ta cũng không thể vì thế mà phủ định những thành tựu to lớn mà kinh tế Trung Quốc đã giành được trong gần 30 năm qua, đặc biệt là ngành chế tạo đã giành được danh hiệu “công xưởng của thế giới” cho Trung Quốc. Mô hình này khiến cho sự theo đuổi về kinh tế của Trung Quốc đang ngày càng được sự quan tâm của các nước trong khu vực. Mặc dù thực lực kinh tế hiện nay vẫn kém xa Mỹ, nhưng vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trên vực kinh tế đã được các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương thừa nhận. 
3. Địa vị lãnh đạo của Mỹ trên lĩnh vực quân sự, an ninh và chính trị 
Về quân sự, an ninh và chính trị, chắc chắn Mỹ vẫn giữ ưu thế tuyệt đối, chi phí quân sự năm 2010 của Mỹ lên tới 698 tỷ USD, chiếm 43% chi phí của toàn thế giới. Còn Trung Quốc mặc dù được cho là nước có chi phí quân sự cao thứ hai, chi phí quân sự năm 2010 của Trung Quốc là 119 tỷ USD, cũng chỉ chiếm 7,3% chi phí của toàn thế giới. Mấy chục năm qua, chi phí quân sự của Mỹ luôn giữ ở mức khoảng 4% GDP, còn Trung Quốc chỉ 2%. Về căn bản, điều này khiến cho Trung Quốc trong tương lai có thể dự kiến, rất khó thu hẹp khoảng cách về quân sự với Mỹ. Bên cạnh đó, Mỹ cũng là nước buôn bán vũ khí lớn nhất thế giới. Điều quan trọng hơn nữa là, phần lớn các tổ chức và cơ cấu quân sự quốc tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều nằm trong sự kiểm soát của Mỹ. Ngoài đồng minh Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, Mỹ còn duy trì quan hệ đối tác quân sự lâu dài với các đồng minh như Philíppin, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan, Ấn Độ, Pakixtan, Xinhgapo và Đài Loan. Ngoài ra, Mỹ cũng phát triển quan hệ an ninh gắn bó với các nước khác ở châu Á-Thái Bình Dương, chẳng hạn như Việt Nam... Quan hệ quân sự vững chắc nhất của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương là đồng minh quân sự giữa Mỹ với Nhật Bản và Hàn Quốc. Bắt đầu từ những năm 1970, Mỹ thường xuyên tham gia tập trận quân sự chung với Hàn Quốc, bao gồm tập trận “Ulchi Focus Lens” mỗi năm một lần lấy Bắc Triều Tiên làm kẻ địch giả tưởng. “Hành động tinh thần đồng đội” là cuộc tập trận quân sự mang tính giai đoạn được tiến hành từ năm 1976 đến năm 1997, và năm 2010 Mỹ và Hàn Quốc cùng tổ chức 4 cuộc tập trận hỗn hợp khác như tập trận “Tinh thần bất khả chiến bại”, tập trận răn đe trên biển đối với Bắc Triều Tiên, tập trận chống tàu ngầm và tập trận răn đe chiến tranh kéo dài là 11 ngày, sau vụ pháo kích ở đảo Yeonpyeong hai nước còn bố trí huấn luyện quân sự. Mỗi năm Mỹ tiến hành hơn 100 cuộc tập trận chung với Nhật Bản, ngoài ra Mỹ còn chỉ huy cuộc tập trận trên biển “Hòa bình -09” ( Trung Quốc cũng tham gia cuộc tập trận này) và một loạt các cuộc tập trận quân sự sau vụ pháo kích ở đảo Yeonpyeong. 
Trên lĩnh vực này, Trung Quốc trong tay chỉ có con bài “Tổ chức hợp tác Thượng Hải” (SCO). Tổ chức này do Trung Quốc và Nga cùng phát huy vai trò lãnh đạo. Ngoài ra còn có quan hệ đồng minh Trung Quốc-Bắc Triều Tiên và “quan hệ đối tác toàn diện” giữa Trung Quốc và Pakixtan. Diễn đàn quốc tế duy nhất mà Trung Quốc và Mỹ cùng phát huy vai trò lãnh đạo ở khu vực Đông Bắc Á chính là Đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên. Tuy thực lực quân sự của Mỹ vẫn ở địa vị lãnh đạo toàn cầu, nhưng ngân sách và chi phí quốc phòng của Trung Quốc trong mấy chục năm qua cũng tăng lên rõ rệt. Từ năm 1978-1987, chi phí quân sự bình quân hàng năm của Trung Quốc tăng 3,5%; từ năm 1988-1997 tăng 14,5%; từ năm 1998-2007 tăng 15,9%. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành nước có chi phí quân sự lớn thứ hai thế giới. Từ đó có thể thấy sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang được tăng cường một cách nhanh chóng, ngân sách quân sự đang tăng lên không ngừng. Tóm lại, về an ninh quân sự, Mỹ không những chiếm địa vị lãnh đạo tuyệt đối về thực lực và trang thiết bị quân sự, mà tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương này số lượng các nước hợp tác và đi theo Mỹ cũng đều nhiều hơn so với Trung Quốc. Với những phân tích nêu ở trên, mặc dù có học giả đánh giá kinh tế Trung Quốc có thể sẽ vượt Mỹ vào năm 2030, nhưng trong một thời gian ngắn, Trung Quốc lại khó có thể làm lung lay địa vị lãnh đạo của Mỹ trên lĩnh vực quân sự, an ninh. 
Về ảnh hưởng chính trị, chênh lệch giữa Trung Quốc và Mỹ cũng rất rõ rệt. Điều này không chỉ vì Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất trong các công việc quốc tế, mà còn vì Oasinhtơn rất coi trọng sức mạnh mềm và sức mạnh thông minh. Trong ngoại giao sức mạnh mềm, Mỹ đặc biệt chú ý vận dụng bốn điểm sau: bất kỳ lúc nào cũng có thể điều chỉnh chính sách ngoại giao để chiếm vị trí cao về đạo đức; tăng cường và định hướng dư luận công chúng; nâng cao sự tin cậy quốc tế để duy trì quan hệ đồng minh; thường xuyên tranh luận công khai về nội chính và ngoại giao khiến cho việc chế định các chính sách ngoại giao của Mỹ có khả năng tự điều chỉnh rất mạnh, từ đó tránh được việc xuất hiện thảm họa ngoại giao. Mặc dù chủ nghĩa chống Mỹ vẫn là một hiện tượng luôn nhận được sự quan tâm của mọi người trên khắp thế giới, nhưng về tổng thể, sức mạnh mềm và ảnh hưởng chính trị của Mỹ vẫn vượt xa Trung Quốc. Về ảnh hưởng dư luận, nhận thức của công chúng và khả năng lãnh đạo chính trị của Mỹ cũng lớn hơn Trung Quốc. Khi giải thích về chính sách chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á của Mỹ trong thời gian gần đây, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton từng nêu rõ: “Mỹ là quốc gia duy nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương có đồng minh rộng khắp, không có tham vọng lãnh thổ và có thể cung cấp hàng hóa công cộng cho các nước trong khu vực”. Mặc dù Trung Quốc luôn nhắc lại mong muốn phát triển hòa bình và theo đuổi một thế giới hài hòa, nhưng phương Tây và các nước xung quanh Trung Quốc vẫn hoài nghi đối với ý đồ của Trung Quốc. Sự trỗi dậy của Trung Quốc thường bị coi là mối đe dọa đối với các nước láng giềng châu Á và trật tự chính trị toàn cầu. Vì vậy, sức mạnh mềm đã trở thành một điểm yếu trong chính sách ngoại giao Trung Quốc, và đe dọa đến lợi ích cốt lõi của nước này. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã nhận được sự quan tâm rộng khắp trên phạm vi thế giới. Một số chuyên gia dự đoán, Trung Quốc sẽ xảy ra xung đột với các nước lớn chủ yếu khác (chẳng hạn như Mỹ). Trung Quốc có trỗi dậy một cách hòa bình hay không là liên quan trực tiếp tới ảnh hưởng cũng như uy tín của Trung Quốc trên phạm vi khu vực Đông Á và thế giới. Biện pháp nâng cao sức mạnh mềm của Trung Quốc bao gồm cử nhân viên y tế và giáo viên ra nước ngoài phục vụ, tiếp nhận lưu học sinh đến Trung Quốc, cũng như xây dựng Học viện Khổng Tử ở nước ngoài và mở các chương trình đào tạo ngôn ngữ... Tuy nhiên, vai trò mà sức mạnh mềm của Trung Quốc có thể phát huy vẫn còn hạn chế. 
4. Hàm nghĩa của “cơ chế lãnh đạo kép” 
Sự xuất hiện của “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đã phản ánh một quá trình phát triển tự nhiên. Điều này không chỉ đã thể hiện hiện trạng và lợi ích quốc gia cốt lõi của Trung Quốc và Mỹ, mà còn cho thấy trách nhiệm nước lớn mà Trung Quốc và Mỹ phải gánh vác trong hệ thống này. Hướng đi của cơ chế mới này trong tương lai được quyết định bởi việc cơ chế này có phù hợp với lợi ích của Trung Quốc và Mỹ cũng như các bên tham gia khác (như Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên và ASEAN) hay không. Vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa các thực thể nêu trên là điều tất yếu. Từ hàm nghĩa của “cơ chế lãnh đạo kép” cho thấy cơ chế này đã tỏ rõ thế mạnh và thế yếu của cả Trung Quốc và Mỹ. Trên cơ sở hiện trạng này, Trung Quốc và Mỹ cần phải không ngừng thích ứng với đối phương và ủng hộ lẫn nhau. Hai bên đều phải có sự thỏa hiệp trong lĩnh vực mà mình tương đối yếu thế, đồng thời phải nhìn về tương lai và đồng ý đảm nhận vai trò của nước lãnh đạo trong lĩnh vực mà mình có thế mạnh. Thông thường chính trị không thể độc lập tồn tại nếu xa rời kinh tế, vì vậy phải phối hợp tốt hơn nữa quan hệ giữa kinh tế với chính trị. Nguyên tắc 3C (coordination, cooperation and compromise), tức là phối hợp, hợp tác và thỏa hiệp rất quan trọng trong quan hệ Trung-Mỹ, “hai nước cần phải tìm một phương thức phù hợp để thực hiện cùng tồn tại theo kiểu “bên tương quan lợi ích”, chẳng hạn như hai bên có nhận thức chung về lợi ích cốt lõi của nhau”. Mọi người có thể sẽ lấy nguyên tắc 3C tích cực này so sánh với một nguyên tắc 3C tiêu cực (competition, conflict and confrontation) là cạnh tranh, xung đột và đối kháng, nguyên tắc 3C tích cực là nguyên tắc mà việc xây dựng một “cơ chế lãnh đạo kép” hòa bình cần có, còn nguyên tắc 3C tiêu cực sẽ khiến cho cơ chế lãnh đạo chia rẽ. Tuy nhiên, xem xét đến việc Trung Quốc và Mỹ có lợi ích chung rộng khắp ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, “cơ chế lãnh đạo kép” này ngày càng có khả năng phát triển trên cơ sở của nguyên tắc 3C tích cực, từ đó đưa đến sự ổn định cho khu vực Đông Á. 
Đúng như đầu bài viết đã nhắc đến, dựa theo lý luận chuyển dịch quyền lực, khi nước giữ bá quyền với nước trỗi dậy ở thời kỳ cân bằng là thời kỳ nguy hiểm nhất có thể dẫn đến đối kháng giữa hai bên. Trên thực tế, đúng như Nick Bisley từng nói “Những sự việc đã xảy ra trong năm 2009-2010 đánh dấu trong một thời gian dài sau này, Trung Quốc và Mỹ sẽ xảy ra xung đột và mâu thuẫn trong các vấn đề như: lợi ích đan xen lẫn nhau, thực lực quân sự tăng lên không ngừng, cũng như các nước trong khu vực lấy thủ đoạn quân sự để quán triệt chính sách chiến lược… Nhưng bên cạnh đó, Trung Quốc và Mỹ lại cùng chia sẻ rất nhiều lợi ích, những điều này đều có thể trở thành nền tảng của trật tự mới trong khu vực”. Từ điểm này cho thấy nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay của Oasinhtơn và Bắc Kinh là tăng cường hơn nữa sự giao lưu và phối hợp giữa hai nước. Nghiên cứu các quan điểm khác nhau trong quan hệ Trung-Mỹ có thể giúp chúng ta kiểm chứng sự trỗi dậy của Trung Quốc tạo nên “trò chơi được mất ngang nhau” hay là cục diện hai bên cùng thắng lợi. Theo quan điểm của những người theo chủ nghĩa hiện thực mang tính tấn công, thì môi trường chiến lược mà Trung Quốc và Mỹ đang đối diện là “trò chơi được mất ngang nhau”, việc hai nước chia sẻ quyền lực là điều không thể thực hiện, đặc biệt là về quân sự, sự trỗi dậy của Trung Quốc đe dọa đến địa vị của Mỹ trên lĩnh vực này. John Mearsheimer khẳng định: “Thời kỳ đầu của thế kỷ 21, cục diện nguy hiểm nhất mà Mỹ có thể phải đối diện là Trung Quốc trở thành nước bá quyền tiềm tàng ở khu vực Đông Bắc Á. Trước tình hình thực lực Trung Quốc tăng lên không ngừng, Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ trở thành đối thủ của nhau”. 
Quả thật Trung Quốc và Mỹ đang tồn tại một số bất đồng quan trọng, những bất đồng này còn có thể gây nên xung đột thậm chí đối kháng quân sự, trong đó bao gồm việc Mỹ bán vũ khí quân sự cho Đài Loan, vấn đề Biển Đông... Bất đồng giữa Trung Quốc và Mỹ trong rất nhiều vấn đề như Biển Đông, nhân quyền…sẽ khiến cho mọi người hoài nghi về việc liệu hai nước có thể duy trì mối quan hệ hòa bình lâu dài hay không. Tranh chấp, tranh luận và xung đột rất có thể trở thành trạng thái thường xuyên, nhưng điều này không nhất thiết phải mâu thuẫn với xu thế hợp tác trên phạm vi rộng hơn. Ngay cả giữa các đồng minh với nhau, cũng không thể đạt được ý kiến đồng nhất trong tất cả các vấn đề, tranh luận gay gắt là điều không hiếm thấy. Bài viết này không có ý định chứng minh về khả năng xung đột trong tương lai giữa Trung Quốc và Mỹ không còn tồn tại. Trái lại, điều mà bài viết muốn đưa ra là trong khuôn khổ của “cơ chế lãnh đạo kép”, việc hợp tác và cùng quản lý các vấn đề khó giải quyết sẽ trở nên dễ dàng hơn. Toàn cầu hóa và việc dựa vào nhau đã làm tăng thêm hy vọng cho việc Trung Quốc và Mỹ thực hiện cục diện hai bên cùng thắng lợi, điều này đã hình thành sự tương phản rõ rệt so với cuộc cạnh tranh đối kháng gay gắt giữa Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Điều trước tiên và cũng là quan trọng nhất là giữa Mỹ và Liên Xô không hình thành sự dựa vào nhau về kinh tế, còn Trung Quốc hiện nay cần có đầu tư trực tiếp và tiêu dùng của Mỹ để thúc đẩy ngành chế tạo của nước này phát triển, Mỹ cũng cần có thị trường Trung Quốc và xuất khẩu hàng hóa. Trung Quốc giữ lượng lớn trái phiếu chính phủ Mỹ, sự thật này càng khiến cho sự ổn định của kinh tế Mỹ và tình trạng thâm hụt tài chính của Chính phủ Liên bang trở thành một trong những sự quan tâm quan trọng của Trung Quốc. Thứ hai, mô hình đối kháng ý thức hệ giữa Mỹ và Liên Xô cũng hoàn toàn không thích hợp với quan hệ Trung-Mỹ, vì hiện nay Trung Quốc quan tâm nhiều hơn đến tiến trình hiện đại hóa chứ không phải là ý thức hệ. Cho dù điều này không thể xóa bỏ một cách hoàn toàn khả năng đối kháng, nhưng lợi ích chung giữa Trung Quốc và Mỹ được hình thành trên cơ sở dựa vào nhau về kinh tế và những xem xét thiết thực về chiến lược, cũng khiến cho khả năng xuất hiện cục diện hai bên cùng thắng lợi lớn hơn rất nhiều so với khả năng xuất hiện “trò chơi được mất ngang nhau” dựa trên nguyên tắc 3C tiêu cực. Thông qua việc so sánh những lợi ích chung và đan xen giữa Trung Quốc và Mỹ (như việc ổn định và phồn vinh khu vực), chúng ta có thể thấy rằng Trung Quốc và Mỹ có thể lấy phương thức hòa bình để xử lý những bất đồng giữa hai nước. Vì mục đích này, Trung Quốc và Mỹ cần tránh xảy ra xung đột và xây dựng các cơ chế và hệ thống quản lý khủng hoảng và dự phòng khủng hoảng. Với quan niệm hai bên cùng thắng lợi, thì sự trỗi dậy của Trung Quốc đều có lợi cho cả Trung Quốc và Mỹ. Quan niệm dựa vào nhau cho rằng chỉ cần mối quan hệ giữa các nước lớn được quản lý một cách có hiệu quả, thì xung đột giữa các nước lớn trên thực tế là có thể tránh được. Ngoài ra, sự phát triển không ngừng của toàn cầu hóa và nhất thể hóa khu vực sẽ tạo nên sự dựa vào nhau về kinh tế ở mức độ lớn hơn. Hiện nay, chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều ví dụ về sự hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ. Chẳng hạn như, bắt đầu từ năm 2006, hai nước đã xây dựng cơ chế “Đối thoại chiến lược kinh tế Trung-Mỹ” được tổ chức luân phiên hàng năm ở Bắc Kinh và Oasinhtơn.
Báo chí thường xuyên đưa tin về các chuyến thăm viếng và các cuộc tiếp xúc cấp cao giữa hai nước. Ví dụ như Tổng thống Mỹ Barack Obama đến thăm Trung Quốc vào tháng 11/2009, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cầm Đào đến thăm Mỹ vào tháng 1/2011, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm Mỹ vào tháng 2/2012… Còn một điểm nữa là khái niệm cùng nhau quản lý là mang tính bao dung, và không có tính bài xích. Trung Quốc và Mỹ nên tiến hành hợp tác với các nước liên quan khác (chẳng hạn như Nhật Bản, Nga và Hàn Quốc). Sở dĩ nói cơ chế lãnh đạo kép đang “bước đầu hình thành” là vì hiện nay tiến trình này vẫn trong giai đoạn manh nha. Cơ chế này vẫn không phải là cơ chế mang tính chức năng có hiệp nghị bảo đảm như NATO hay đồng minh Mỹ-Nhật. Cho dù trong đàm phán 6 bên, cục diện lãnh đạo kép giữa Trung Quốc và Mỹ tuy đã xuất hiện, nhưng cơ chế này còn lâu mới được thể chế hóa. Sự phát triển của “cơ chế lãnh đạo kép” không chỉ được quyết định bởi việc Trung Quốc có thể phát triển bền vững hay không, mà việc quyết định vận mệnh tương lai của cơ chế này còn bao gồm việc xác định hơn nữa nền tảng của cơ chế và tính quy phạm. Do sự phát triển của “cơ chế lãnh đạo kép” không ổn định và luôn thay đổi, nên rất khó xác định ảnh hưởng của Trung Quốc liệu có thể mở rộng sang lĩnh vực chính trị, quân sự hoặc vượt ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương để phát triển ra toàn cầu hay không. Nhưng có thể hình dung được việc bố trí và xây dựng cơ chế cụ thể giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ phát triển theo hướng tăng cường “cơ chế lãnh đạo kép”. Điều này chắc chắn đưa tới sự quan tâm của mọi người. Chỉ có như vậy, Trung Quốc mới có thể nắm chắc một cách có hiệu quả các cơ hội lịch sử: từ khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc đến nay, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế Trung Quốc trong gần 30 năm qua lần đầu tiên đã tạo ra cho Trung Quốc cơ hội phát huy vai trò lãnh đạo ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 
Còn điều tương tự đáng quan tâm là mặc dù tinh thần dân tộc của dân chúng Trung Quốc liên tục tăng cao, nhưng Trung Quốc lại chưa từng nhận thức một cách nghiêm túc khái niệm về “nhóm 2 nước”, mà còn luôn tránh sử dụng từ “lãnh đạo” khi miêu tả vai trò của Trung Quốc trên các lĩnh vực. Điều này chủ yếu là do thực lực thực sự của Trung Quốc vẫn chưa đạt đến mức độ này, nhưng quan trọng hơn “giấu mình chờ thời” vẫn là phương hướng chỉ đạo của ngoại giao Trung Quốc. 
5. Phương hướng phát triển trong tương lai 
Đến nay, “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương được chứng minh là có vai trò tích cực, cơ chế này mang lại lợi ích cho cả Trung Quốc và Mỹ. Nhưng chúng ta vẫn cần phải quan sát hơn nữa liệu cơ chế này có thúc đẩy sự hợp tác và phối hợp giữa Trung Quốc và Mỹ với các nước khác trong khu vực (như Nhật Bản và Nga) hay không. Có một khả năng là cơ chế mang tính khu vực nào đó (như đàm phán 6 bên) sẽ được cơ chế hóa hơn nữa, và tiếp tục lôi cuốn các nước lớn liên quan của khu vực tham gia cơ chế này. Ngoài ra, Trung Quốc và Mỹ có thể cũng cần mở rộng các cơ chế hiện nay, từ đó tham gia một cách chính thức hoặc không chính thức vào những cơ chế mở rộng này. Trung Quốc và Mỹ đều nên xem xét đến lợi ích cốt lõi của đối phương và đưa ra những nhượng bộ nhất định, ví dụ như Trung Quốc nên cố gắng thỏa mãn nhu cầu của Mỹ trong lĩnh vực kinh tế và tiền tệ, từ đó giúp Mỹ đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế. Đồng thời, Mỹ cũng phải đưa ra những xem xét tương tự, như liệu có thể đưa Trung Quốc vào cơ chế hội đàm “2+ 2” của bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao hiện nay của Mỹ và Nhật Bản hay không, từ đó khiến cơ chế này trở thành cơ chế “2+2+ 2” giữa ba nước Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Nếu làm được như vậy, “cơ chế lãnh đạo kép” sẽ có thể tiếp tục phát triển ổn định hơn. Ngoài ra, còn có thể tiến hành phân tích đối với “cơ chế lãnh đạo kép” từ hai góc độ sau: Một mặt, chúng ta nên nhận thức được rằng sự chênh lệch giữa Trung Quốc và Mỹ trên nhiều lĩnh vực đang được thu hẹp không ngừng, như tổng lượng GDP của Trung Quốc có khả năng vượt Mỹ trong 20 năm tới. Do ảnh hưởng, sức mạnh mềm và tổng lượng GDP của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu tăng lên, nên một số người cho rằng sự “tăng lên” của Trung Quốc có thể sẽ kèm theo sự “đi xuống” không ngừng của Mỹ. Mặt khác, mặc dù việc Trung Quốc phát triển mạnh mẽ có thể khiến cho nước này trở thành siêu cường trên lĩnh vực nhất định (như lĩnh vực kinh tế), nhưng trong một thời gian tương đối dài, Trung Quốc sẽ khó có thể nâng cao địa vị của mình ngang bằng với Mỹ trên lĩnh vực quân sự và chính trị. Cũng có nghĩa là, “cơ chế lãnh đạo kép” này sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tương đối dài, và khả năng xuất hiện sự chuyển đổi mang tính căn bản do bên này thay thế bên kia là không lớn. Đây là ý nghĩa hiện thực khiến chúng ta phải tiến hành nghiên cứu sâu sắc về khái niệm “cơ chế lãnh đạo kép” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 
Trên thực tế, “cơ chế lãnh đạo kép” có hai hàm nghĩa. Cơ chế này không chỉ nhấn mạnh sự trỗi dậy và ảnh hưởng của Trung Quốc, mà còn làm nổi bật thực lực hùng mạnh và địa vị lãnh đạo vững chắc khó có thể lay động của Mỹ. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự can thiệp của Mỹ vào Ápganixtan và Irắc trên mức độ nhất định đã làm yếu đi uy tín của Mỹ trong các công việc quốc tế, nhưng hiện nay sức mạnh cứng và sức mạnh mềm của Mỹ vẫn đứng đầu trong thế giới. Từ khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc đến nay, mặc dù trên thế giới không ngừng xuất hiện nước thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ, nhưng cho dù là Liên Xô trước đây, hay các nước châu Âu, và Trung Quốc hiện nay, đều không đạt được mức độ thay thế Mỹ. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng vì sao trong 30 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế liên tục của Trung Quốc và địa vị lãnh đạo quân sự chính trị tuyệt đối của Mỹ cùng tồn tại. Hiện nay, cho dù là châu Á-Thái Bình Dương hay toàn thế giới, đều đang trải qua “thời khắc lịch sử” quan trọng, đang kêu gọi chúng ta tiến hành kiểm nghiệm thực tiễn và xây dựng lý luận một cách sâu sắc hơn. Sở dĩ bài viết không ngừng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xuất hiện cơ chế lãnh đạo mới này là vì cơ chế này sẽ tiếp tục tồn tại đến cuối thế kỷ 21 hoặc trong một thời gian dài nữa. Thực lực kinh tế của Trung Quốc sẽ không ngừng tăng lên, đồng thời Mỹ sẽ tiếp tục chiếm địa vị chủ đạo trên lĩnh vực quân sự, địa vị của hai bên trên các lĩnh vực đặc biệt không thể thay thế cho nhau. Chúng ta có lý do để tin tưởng rằng Trung Quốc và Mỹ cũng như các nước tham gia chủ yếu khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ xây dựng được mô hình phát triển bổ sung ưu thế cho nhau. “Cơ chế lãnh đạo kép” không chỉ khiến cho Trung Quốc và Mỹ chiếm địa vị chủ đạo trong các lĩnh vực đặc biệt, mà trên mức độ nhất định còn bảo đảm sự ổn định và phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong một thời gian tương đối dài trong tương lai./. 
Theo Tạp chí “Ngoại giao Trung Quốc” (Trung Quốc) 
Lê Sơn (gt)

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

Đấu khẩu Mỹ - Trung xung quanh tranh chấp Biển Đông


Đấu khẩu Mỹ - Trung xung quanh tranh chấp Biển Đông


Trung Quốc và Mỹ đã leo thang cuộc chiến về ngôn từ đối với các tranh chấp tại Biển Đông khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc triệu một nhà ngoại giao cấp cao của Mỹ tới để phản đối về các nhận định của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Tháng trước, Trung Quốc đã khiến cho các quốc gia láng giềng lo lắng vì đã thiết lập một đơn vị đồn trú quân sự mới tại Biển Đông. Thứ sáu vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã phát biểu rằng động thái gây ra nguy cơ làm căng thẳng gia tăng “đi ngược lại những nỗ lực ngoại giao để giải quyết các khác biệt.”
Ngay cuối tuần, Bắc Kinh trả đũa thông qua phát biểu rằng họ đã triệu Robert Wang, đại biện Mỹ, để thể hiện “thông điệp nghiêm trọng” về những bình luận của Oa-sinh-tơn.
Trương Côn Thịnh (Zhang Kungsheng), trợ lý bộ trưởng, đã nói Mỹ “đã gửi thông điệp sai lầm một cách nghiêm trọng và sẽ không giúp gì cho những nỗ lực của các bên liên quan để duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông hay tại Châu Á Thái Bình Dương.”
Căng thẳng tại Biển Đông đã gia tăng kể từ khi Trung Quốc thiết lập khu vực hành chính mới cũng như đơn vị quân sự mới quản lý lãnh thổ đang có tranh chấp hồi tháng trước.
Tam Sa, tên của thành phố và đơn vị quân sự, làm gợi nhớ đến các tên gọi bằng tiếng Trung đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và bãi Trung Sa. Đơn vị đồn trú mới là một phần thuộc lực lượng quân sự của Quảng Châu và được đặt trên một hòn đảo thuộc Hoàng Sa nơi mà Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc đã hiện diện.
Bắc Kinh chưa có thông báo về việc chuyển các lực lượng lính hay vũ khí mới tới khu vực này nhưng giới quân sự không làm rõ mục đích cũng như các vũ khí trang bị hiện có của đơn vị này.
Trung Quốc có yêu sách chủ quyền đối với các nhóm đảo vốn là đối tượng yêu sách toàn phần hay một phần của Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin, Bru-nây và Ma-lai-xi-a. Căng thẳng đã trở nên leo thang từ vài tháng gần đây sau những vụ việc liên quan giữa Trung Quốc với Phi-líp-pin, cũng như với Việt Nam.
Các tranh chấp hiện đang trở thành tâm điểm quan tâm của cộng đồng quốc tế, bởi lẽ gần một nửa thương mại tàu biển được lưu thông tại Biển Đông. Đặc biệt hiện nay quân đội Mỹ đang hướng sự quan tâm trở lại châu Á, bằng việc khuyến khích đồng minh lâu năm Phi-líp-pin cũng như đối thủ cũ Việt Nam trong việc bảo vệ lợi ích tại khu vực một cách quyết liệt hơn. Mỹ đang gây áp lực với các bên liên quan để giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán khu vực thay vì đàm phán song phương.
Thứ sáu vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Qin Gang đã đưa ra tuyên bố đáp trả lại lời bình luận từ phía Mỹ, theo đó, nhắc lại luận điệu của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền tuyệt đối đối với biển và các đảo liên quan, và có quyền thành lập thành phố để quản lý khu vực này.
“Tại sao Mỹ lại lờ đi trước việc nhiều quốc gia mở các lô khai thác dầu khí, và ban hành nội luật một cách bất hợp pháp vi phạm đến các đảo  và vùng biển của Trung Quốc?”. Ông Qin nói. “Tại sao Mỹ tránh nói về những đe dọa của tàu quân sự đối với ngư dân Trung Quốc từ một số nước và về những yêu sách vô lý về chủ quyền đối với các đảo của Trung Quốc?”.
Jia Qingguo, Phó trưởng khoa Nghiên cứu Quốc tế trường Đại học Bắc Kinh, phát biểu rằng tuyên bố của Mỹ cho thấy “sự bất công” khi đổ lỗi cho một mình Trung Quốc “trong khi đó vấn đề Biển Đông không chỉ liên quan đến Trung Quốc mà còn các bên khác.” Tuyên bố này không giúp giải quyết tranh chấp.
Cùng ngày đó, Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu đã nói rằng các quốc gia tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (tiếng Trung-Diaoyu/ tiếng Nhật-Sensaku)-nơi mà cả Trung Quốc và Đài Loan cùng nêu yêu sách chủ quyền nhưng lại thuộc quyền quản lý của Nhật Bản-nên thương lượng giải quyết hòa bình, từ đó cho phép hợp tác để phát triển tài nguyên biển trong khu vực. Phía Đài Loan cũng cho biết các quần đảo đã được Nhật Bản chuyển nhượng sau Thế chiến lần thứ 2.
Hương Lan (gt)

Mỹ bối rối trước các tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á


Mỹ bối rối trước các tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á


Mỹ dường như bối rối trước một loạt các tranh chấp lãnh thổ liên quan đến đồng minh chủ chốt và các đối tác Châu Á trong bối cảnh các nước này đang kêu gọi Mỹ phát huy ảnh hưởng ngoại giao để hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ.  

Ghi nhận sự khác biệt sâu sắc về lợi ích trong các tranh chấp kể trên, cho đến nay Mỹ luôn thể hiện lập trường thận trọng, luôn lập lại rằng các bên liên quan cần tìm kiếm giải pháp “một cách hòa bình thông qua đối thoại”.
Các chuyên gia cho rằng khi mà các nước đang chạy đua để bảo đảm các lợi ích hàng hải chiến lược của mình trong khu vực, nơi chứa đng các nguồn tài nguyên chưa được khai thác dưới đáy biển và các tuyến giao thông hàng hải quan trọng thì những vấn đề này đã trở nên khó giải quyết hơn. Điều này đòi hỏi Mỹ phải thực hiện một chính sách ngoại giao phức tạp hơn. Ông Kwon Tae-young thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Hàn Quốc cho rằng, "Châu Á vẫn chưa hoàn toàn giải quyết các vấn đề lịch sử của họnên đã làm các tranh chấp lãnh thổ trở nên dữ dội và cản trở các bước đi nhằm tiến tới việc hợp tác khu vực lớn hơn”. Ông này cũng cho rằng “đó không đơn giản chỉ là cái mà chúng ta gọi là đảo và các vùng nước, mà là một kho tài nguyên quan trọng chưa được khai thác tại những vùng biển gần quần đảo Kuril và các đảo khác ở Biển Đông và Biển Hoa Đông”.
Đặc biệt, tranh cãi gần đây giữa 2 đồng minh chiến lược của Mỹ là Hàn Quốc và Nhật Bản đã làm Washington bối rối do điều này có thể làm tổn hại tới việc can dự ngày càng sâu sắc của Mỹ tại khu vực mang tính chiến lược sống còn này.
Các tranh chấp về chuỗi các hòn đảo ở Biển Hoa Đông, nơi mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và NhậtBản gọi là Senkaku cũng đang đặt Mỹ và vị trí ngoại giao khó khăn do việc Nhật Bản đang tích cực tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ đối với yêu sách chủ quyền của mình. Theo báo cáo, các quan chức Nhật Bản được cho là đã yêu cầu Mỹ tái khẳng định việc bảo vệ Nhật Bản theo Hiệp ước hợp tác và an ninh chung được ký năm 1960 sẽ được áp dụng đối với cả các đảo tranh chấp. Việc áp dụng Hiệp ước này có nghĩa sẽ có sự can thiệp quân sự của Mỹ trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vũ trang đối với các đảo này. Yêu cầu này được đưa ra khi hai quốc gia đồng minh này được cho là đang đàm phán về việc sửa đổi hướng dẫn về hợp tác quốc phòng. Về cơ bản, Mỹ thừa nhận sự kiểm soát các đảo của Nhật Bản mặc dù Mỹ không nói ra vì còn phải xem xét tới khía cạnh quan hệ  kinh tế và ngoại giao với Trung Quốc.
Các đảo này đã được đặt dưới sự quản lý tạm thời của Mỹ sau khi Hiệp định hòa bình San Francisco được ký năm 1951 chính thức kết thúc chiến tranh thế giới thứ II. Mỹ đã trao trả cho Nhật năm 1972. Nhật Bản đã lần đầu tiên sáp nhập vào lãnh thổ của mình sau chiến tranh Trung - Nhật năm 1895.
Trong bối cảnh Nhật Bản đang nỗ lực tận dụng liên minh với Mỹ nhằm giải quyết tranh chấp thì Trung Quốc cũng đã gửi một thông điệp rõ ràng chống lại sự ủng hộ của Mỹ đối với tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản. Phái đoàn quân sự Trung Quốc thăm Mỹ đã phát biểu với các quan chức quốc phòng của Mỹ là Bắc Kinh chống lại việc áp dụng Hiệp ước Mỹ-Nhật đối với các đảo tranh chấp. Các nhà quan sát cho rằng, Trung Quốc có thể cảm thấy lo lắng khi Washington đã tìm cách để khống chế Trung Quốc giữa lúc các nước đồng minh và các đối tác kêu gọi Mỹ giúp đỡ giải quyết hàng loạt tranh chấp ở khu vực Biển Đông. Mỹ đã đưa ra một thông điệp cảnh báo đến Trung Quốc, nhấn mạnh tầm quan trọng của “tự do tiếp cận và đi lại trong trật tự khu vực dựa trên quy định pháp lý." Song đối với Mỹ, từ bỏ một cách rõ ràng chính sách vừa can dự, vừa kiềm chế Trung Quốc để bị kéo vào các tranh chấp khu vực là một gánh nặng, các chuyên gia nhận định.
“Mỹ cần Trung Quốc và ngược lại. Bối rối trước các tranh chấp, Mỹ có thể tiếp tục sử dụng tới ngoại giao và tài hùng biện nhằm giảm căng thẳng và giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Tuy nhiên, khi vấn đề ngoài tầm kiểm soát, Mỹ có thể sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ các đối tác của mình”, chuyên gia Kwon từ KRIS nhận xét.
Mỹ cũng dường như đang theo sát tranh chấp Nhật-Nga đối với 4 đảo nhỏ nằm ở phía Nam quần đảo Kurril do 2 cường quốc này cũng đóng vai trò quan trọng đối với an ninh khu vực. Hai tàu chiến của Nga đã được phái đến khu vực này. Nga tuyên bố việc này là một phần của sự kiện thông thường nhằm  tưởng niệm các thủy thủ bị nạn, song có nhiều đồn đoán là Moscow đang tìm caách tăng cường hơn nữa sự kiểm soát của mình đối với nhóm đảo tranh chấp này.
Theo các chuyên gia, đau đầu nhất đối với Mỹ lúc này đó là tranh cãi tiếp tục diễn ra đối với vấn đề chủ quyền tại đảo Dokdo. Khi mà Mỹ đang tái tập trung vào khu vực đang có các khó khăn về kinh tế giữa lúc Trung Quốc trỗi dậy, các chuyên gia cho rằng, Washington cần tận dụng các đồng minh chủ chốt là Nhật Bản và Hàn Quốc.  Tuy nhiên, việc bảo đảm hợp tác giữa HQ và Nhật Bản là mộtnhiệm vụ khó khăn trong bối cảnh tình trạng thù địch lịch sử của họ bắt nguồn từ đo hộ thực dân bán đảo Triều Tiên của Nhật Bản giai đoạn 1910 - 1945. Các nhà phân tích cho rằng Tokyo có thể tiếp tục thể hiện lập trường cứng rắn đối với đảo Dokdo trước các cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội dự kiến diễn ra vào tháng mười hoặc tháng mười một tới. Nhật Bản đã sáp nhập các hòn đảo nhỏ vàolãnh thổ của mình năm 1905 trước khi chinh phục toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Hàn Quốc đã được kiểm soát hiệu quả các đảo kể từkhi giải phóng năm 1945.
Song Sang-ho, The Korea Herald
Thùy Anh(gt)

Trở ngại trong hợp tác biển đảo giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục


Trở ngại trong hợp tác biển đảo giữa Đài Loan và Trung Quốc Đại lục


Sự mập mờ trong ngôn từ “Trung Quốc” trong địa vị chính trị của Đài Loan và tính cạnh tranh giữa hai đảng Dân Tiến và Quốc Dân Đảng sẽ là những trở ngại chính trong hợp tác biển đảo giữa Đài Loan và Trung Quốc.

Giữa lúc cuộc vận động bảo vệ đảo Điếu Ngư (Nhật Bản – Senkaku) một lần nữa lên đến đỉnh điểm, ngày 19/7, báo chí Đài Loan đã đưa tin về kết quả thăm dò dân ý trong dân chúng Đài Loan có hợp tác, ủng hộ hai bờ hợp tác đấu tranh trong tranh chấp chủ quyền đảo Điếu Ngư hay không, cho thấy “một nửa số người ủng hộ hai bờ hợp tác”. Trước sự việc này, người phát ngôn Ủy ban đại lục thuộc Viện Hành chính (Chính phủ) Đài Loan nhấn mạnh đảo Điếu Ngư là lãnh thổ của “Trung Hoa Dân quốc”. Trước đó một tuần, người phát ngôn này đã nói rõ với báo chí rằng lập trường của lãnh đạo Đài Loan rất rõ ràng, “Trung Hoa Dân quốc” kiên trì chủ trương có chủ quyền đối với cụm đảo Điếu Ngư và Nam Trung Hoa (Biển Đông), “không thể hợp tác với Trung Quốc đại lục”.
Trong khi có sự lên tiếng từ phía chính phủ kêu gọi hai bờ hợp tác bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư chưa bao giờ khẩn thiết như hiện nay, nhà cầm quyền Mã Anh Cửu lại tiếp tục duy trì chính sách đã định, khiến cho việc bảo vệ đảo Điếu Ngư giữa hai bờ chỉ dừng lại ở bình diện xã hội trong dân chúng mà thôi. Vậy phía sau chính sách của Đài Loan về đảo Điếu Ngư là những tính toán gì? Hai bờ còn có cơ hội hợp tác bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư nữa hay không? 
I- Bảo vệ chủ quyền.
 Khác với Lý Đăng Huy sau khi mãn nhiệm tuyên bố “Đài Loan chỉ có quyền đánh bắt cá chứ không có chủ quyền”, cũng như khác với Đảng Dân Tiến tuyên bố “tuy có chủ quyền nhưng ưu tiên quyền đánh cá”, lập trường của Chính quyền Mã Anh Cửu về chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư và chính sách bảo vệ chủ quyền hiện nay lại trên cơ sở “Hiến pháp một Trung Quốc” của “Trung Hoa Dân quốc”, tiếp theo là lập trường nhất quán của Quốc Dân đảng về chủ quyền đảo Điếu Ngư, theo đó “kiên trì giải quyết hòa bình quyền sở hữu và tranh chấp chủ quyền”. Chính quyền Mã Anh Cửu tuyên bố “Trung Hoa Dân quốc có chủ quyền đối với cụm đảo Điếu Ngư, tới đây sẽ vẫn toàn lực bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư và bảo vệ an ninh cho ngư dân nước ta (Đài Loan)”; “Xét tình hình tranh chấp chủ quyền đảo Điếu Ngư hoàn toàn không thể giải quyết hoàn hảo trong thời gian ngắn, chính phủ nước ta (Đài Loan) chủ trương không nên giải quyết tranh chấp này bằng vũ lực, mà cần xử lý bằng phương thức hòa bình”, cần “khai thác chung, cùng chia sẻ tài nguyên”. 
Từ năm 2008 đến nay, trong nhiều lần khủng hoảng chủ quyền đảo Điếu Ngư, Chính quyền Mã Anh Cửu đều tuyên bố lập trường chính sách của mình một cách kịp thời, rõ ràng và nghiêm túc. Có tài liệu thống kê cho thấy từ tháng 5/2008 đến cuối năm 2011, Chính quyền Mã Anh Cửu đã hơn 20 lần liên tục cho đăng các bài viết và ra tuyên bố về vấn đề chủ quyền đảo Điếu Ngư. Từ tháng 1 năm nay trong khi Nhật Bản nhiều lần khiêu khích, Mã Anh Cửu, Viện Hành chính (Chính phủ), Ủy ban Đại lục, thậm chí cả “Bộ Quốc phòng” đều đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và phản đối việc làm của Nhật Bản. Mã Anh Cửu cho biết rõ “Nhật Bản chiếm đoạt đảo Điếu Ngư là một sự thực lịch sử”, “chúng ta một tấc cũng không nhân nhượng”.
Trong khi kiên trì lập trường ở đảo Điếu Ngư, Mã Anh Cửu cũng đồng thời tỏ rõ thực chất, có biện pháp bảo vệ chủ quyền tượng trưng. Cuối năm 2009 Chính quyền Mã Anh Cửu đã sửa đổi lại một loạt “đường cơ sở lãnh hải, lãnh hải và ranh giới bên ngoài khu giáp ranh đầu tiên của Trung Hoa Dân quốc”, trong đó bao gồm cả đảo Điếu Ngư, đó là lần đầu tiên kể từ khi công bố vào năm 1999, Chính quyền Mã Anh Cửu sửa lại đường cơ sỏ lãnh hải. Trên cơ sở đó, Chính quyền Mã Anh Cửu không ngừng gia tăng mức độ ủng hộ “bảo vệ đảo Điếu Ngư”, nhấn mạnh bảo đảm an toàn cho những người bảo vệ đảo Điếu Ngư theo pháp luật, đồng thời điều tàu của “Sở hải tuần” đến hộ tống ở vùng biển liên quan. 
Xét từ góc độ pháp lý theo đó “hai bờ cùng thuộc một Trung Quốc”, việc bảo vệ chủ quyền lẽ ra phải giúp tạo ra sự hiểu ngầm với nhau về việc cùng bảo vệ chủ quyền hai bờ để quốc tế nhận biết về cơ sở pháp lý nói trên được tốt hơn, nhưng vì sao việc hai bờ hợp tác bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư lại luôn chỉ dừng lại ở bình diện dân chúng, còn khó khăn trong hợp tác bảo vệ chủ quyền về mặt chính quyền giữa hai bờ vẫn không giảm bớt? Từ lâu nay, tiếng nói kêu gọi hai bờ liên kết bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư và cùng khai thác tài nguyên Biển Đông không ngừng xuất hiện, nhưng từ năm 1996 đến nay nhà cầm quyền Đài Loan luôn giữ khoảng cách, né tránh liên kết với Đại lục. Sau khi Mã Anh Cửu lên nắm quyền, tuy nhiều lần tuyên bố chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư nhưng trên bình diện hợp tác bảo vệ lại giữ khoảng cách rõ rệt, cho biết rõ không liên kết với Đại lục ở cấp độ chủ quyền. Mã Anh Cửu nói “việc tranh chấp chủ quyền liên quan đến đảo Điếu Ngư, hiện nay giữa Đài Loan và Đại lục chỉ có mỗi bên tự phản đối Nhật Bản chứ không có vấn đề về hai bên cùng phản đối”. Sau hành động phản đối Nhật Bản bằng tàu bảo vệ “Toàn gia phúc” của một số người Đài Loan ngày 4/7 sử dụng cờ 5 sao để tượng trưng chủ quyền, Mã Anh Cửu tuyên bố rõ đó là việc “không thể chấp nhận”. Trong vấn đề bảo vệ đảo Điếu Ngư, việc Mã Anh Cửu không muốn liên kết với Đại lục chủ yếu có những tính toán gì? 
II- Tranh cãi chủ quyền giữa hai bờ 
Trước khi quan hệ chính trị có bước đột phá, việc hai bờ hợp tác bảo vệ đảo Điếu Ngư có rất nhiều trở ngại mang tính kết cấu. Vấn đề định hướng chính trị luôn là nhân tố căn bản gây trở ngại cho hợp tác bảo vệ chủ quyền. Xã luận trên “Thời báo Trung Quốc” của Đài Loan ngày 18/9/2010 cho rằng “Chính phủ Trung Hoa Dân quốc bảo vệ chủ quyền ở nhóm đảo Điếu Ngư là điều không có gì phải lo sợ, nhưng hai bờ muốn hợp tác thì đó là điều không tránh khỏi liên quan đến vấn đề là chủ quyền đảo Điếu Ngư cuối cùng sẽ thuộc về Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay Trung Hoa Dân quốc? Các nước khác cũng sẽ vì hợp tác hai bờ mà nghi ngờ địa vị chủ quyền của Trung Hoa Dân quốc”. Xã luận cũng khẳng định “trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ, nếu Đài Loan tự thể hiện quan điểm của mình thì ngược lại, sẽ là cơ hội để Đài Loan bước lên vũ đài quốc tế”; Đài Loan kiểm soát đảo Thái Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, nhóm đảo Điếu Ngư nằm trong vùng biển kinh tế của Đài Loan, dù bàn định thế nào, giữa các nước muốn đạt đến hiệp định, sẽ đều không thể bỏ qua Đài Loan, như vậy mới là phương thức thể hiện chủ quyền thực chất hữu hiệu nhất”.
Có học giả Đài Loan nói trong điều kiện quốc tế đều cho rằng “Trung Quốc” chính là Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì “hợp tác hai bờ sẽ khiến nước khác nghi ngờ về địa vị quốc gia chủ quyền của Đài Loan, cũng không tránh khỏi thắc mắc rằng chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư và chủ quyền Biển Đông cuối cùng sẽ thuộc về Đại lục hay Đài Loan”. Trong vấn đề chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư, thậm chí còn có học giả kiến nghị phải “vứt bỏ” cách nói đảo Điếu Ngư là “lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc”, để đổi lại gọi nhóm đảo Điếu Ngư là “các đảo thuộc về Trung Hoa Dân quốc”, để Đài Loan có quyền giao thiệp với Nhật Bản. Đúng như học giả Đài Loan đã nói: “Dù xem xét về an ninh quốc gia hay lợi ích quốc gia, vấn đề mấu chốt vẫn là tự chúng ta phải nghĩ đến vấn đề Đài Loan được công nhận là quốc gia như thế nào”. Biểu hiện ý dân nói trên đã thể hiện tư duy chính sách của nhà cầm quyền Đài Loan: Nếu Đài Loan kiên trì chủ quyền ở đảo Điếu Ngư và Biển Đông thì phải kiên trì địa vị độc lập có chủ quyền, không kiên trì được tư cách là một quốc gia độc lập có chủ quyền thì chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư và Biển Đông sẽ không phụ thuộc theo đó được. Vì thế, trước khi giải quyết vấn đề định vị chính trị giữa hai bờ, nhà cầm quyền sẽ không có bất cứ động tác liên hợp nào với Đại lục trên bình diện chủ quyền, giới hạn cuối cùng của nhà cầm quyền Mã Anh Cửu là vừa phải có lập trường dân tộc, lại vừa phải có tính chất chủ thể, còn về cấp độ khai thác tài nguyên sẽ có hồi đáp sau. Chính quyền Mã Anh Cửu cho biết “đối với bất cứ sáng kiến nào về hợp tác khai thác, chính phủ sẽ đều đánh giá thận trọng, và có sự quyết định phù hợp nhất với lợi ích quốc gia của nước ta”. Ngày 2/9/2010 “Cục trưởng Cục báo chí” Đài Loan Giang Khởi Thần nói rằng “về ý tưởng cùng khai thác, nếu không làm tổn hại đến chủ quyền, cũng không dẫn đến tranh chấp thì sẽ có thể xem xét để tham gia”.
Ngày 5/8/2012 đứng trước tình hình tranh chấp đảo Điếu Ngư và khu vực khác ở Đông Bắc Á, Mã Anh Cửu đề xuất “sáng kiến hòa bình Đông Hải (biển Hoa Đông)”, đại ý: Các bên liên quan tự kiềm chế, không leo thang hành động đối lập; Gác lại tranh chấp, không từ bỏ liên lạc đối thoại; Tuân thủ luật pháp quốc tế, xử lý tranh chấp bằng phương thức hòa bình; Tìm kiếm tiếng nói chung, nghiên cứu đưa ra quy tắc ứng xử biển Hoa Đông; Xây dựng cơ chế, hợp tác khai thác tài nguyên biển Hoa Đông.
III- Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á liên kết gây sức ép
Việc Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á liên kết gây sức ép đối với nhà cầm quyền Mã Anh Cửu, đề phòng hai bờ hợp tác bảo vệ chủ quyền cũng là nguyên nhân chính khiến nhà cầm quyền Mã Anh Cửu băn khoăn lo lắng hiện nay. Cùng với sức mạnh tổng hợp quốc gia và ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc đại lục tăng lên, để ngăn chặn Trung Quốc trỗi dậy, Mỹ đã mở rộng ảnh hưởng chính trị, quân sự của họ ở châu Á – Thái Bình Dương, không ngừng củng cố “Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật”, tăng cường hợp tác đảm bảo an ninh giữa Mỹ với Hàn Quốc, giữa Mỹ với Nhật Bản – Ôxtrâylia, và giữa Mỹ với các nước Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã nửa kín nửa hở ủng hộ Nhật Bản gây tranh chấp để cân bằng với Trung Quốc. Tháng 8 năm 2010, Bộ Ngoại giao Mỹ lại tuyên bố đảo Điếu Ngư “vẫn dưới sự quản lý hành chính của Nhật Bản, ‘Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật’ năm 1960 vẫn có hiệu lực đối với lãnh thổ do Nhật Bản quản lý”. Vì thế, “Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ vẫn áp dụng với nhóm đảo Điếu Ngư”. Liệu ý đồ chiến lược của Mỹ có thực hiện được hay không, vấn đề này cũng cần có sự phối hợp của nhà cầm quyền Đài Loan. Cùng với quan hệ hai bờ được cải thiện, Mỹ cũng luôn tỏ ra nghi ngờ về lòng thành thực của nhà cầm quyền Đài Loan trong hợp tác với Mỹ. Tháng 6 năm 2010, sau khi xảy ra sự kiện tàu Cheonan, chuyên gia thuộc Phòng nghiên cứu Quốc hội Mỹ Shirley Kan đã công khai thắc mắc “vì sao Đài Loan với tư cách là đồng minh lâu dài của Mỹ lại không thống nhất lập trường với Mỹ, với Nhật Bản và Hàn Quốc để khiển trách Bắc Triều Tiên tấn công tàu Cheonan của Hàn Quốc? Trong xử lý quan hệ với Trung Quốc đại lục, Mỹ yêu cầu nhà cầm quyền Mã Anh Cửu phải dứt khoát giữ vững lập trường của đồng minh. Cựu trợ lý phụ trách châu Á – Thái Bình Dương của Ngoại trưởng Mỹ Randy Schriver nhắc nhở Đài Loan, “trong khi cải thiện quan hệ với Trung Quốc, phải đồng thời tỏ rõ thái độ Đài Loan vẫn là một thành viên của mặt trận dân chủ, như vậy mới có thể đứng vững được ở vị trí chiến lược đúng đắn trong tình hình biến động mới ở châu Á – Thái Bình Dương”. Ngày 16/8/2010, Cựu chủ tịch Hiệp hội Mỹ tại Đài Loan Natale H. Bellocchi trong một bài viết nói rằng “ý đồ của nhà lãnh đạo Bắc Kinh vẫn muốn thôn tính Đài Loan”, “Đài Loan cần giữ vững tự do và dân chủ, chỉ có đứng trong mặt trận dân chủ, xây dựng mối quan hệ bình đẳng và công bằng với các nước khác có cùng tâm nguyện, cùng ý chí mới đảm bảo được lâu dài và tốt nhất cho hòa bình ổn định ở khu vực”.
Với sự ủng hộ của Mỹ, thái độ của Nhật Bản đối với đảo Điếu Ngư trở nên cứng rắn và liều lĩnh hơn. Nhật Bản cho rằng hợp tác hai bờ bảo vệ chủ quyền sẽ gây tổn thất và nguy hại cực lớn đối với lợi ích và an ninh của Nhật Bản. Thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ Nhật Bản Kazama Naoki cho rằng hai bờ liên kết sẽ khiến cho “toàn bộ khu vực biển trong chuỗi đảo thứ nhất đều trở thành nội hải của Trung Quốc, việc ngăn chặn Trung Quốc bành trướng hoặc bảo vệ tuyến sinh mệnh trên biển của Nhật Bản sẽ hết sức khó khăn, liên quan đến sự sinh tử của Nhật Bản”. Bởi tác hại của trận động đất năm 2011, không những lãnh thổ Nhật Bản bị thu hẹp mà kinh tế cũng chịu ảnh hưởng kép do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cộng với thiên tai, từ đó bị co hẹp cả về lãnh thổ và tài nguyên, địa dư để thỏa hiệp cũng tiếp tục thu hẹp. Để đề phòng, ngăn chặn hai bờ hợp tác, Chính phủ Nhật Bản thi hành cả hai biện pháp cứng và mềm đối với nhà cầm quyền Đài Loan. Một mặt, động tác cứng rắn tuyên bố chủ quyền ở đảo Điếu Ngư diễn ra liên tục, mặt khác dụ dỗ Đài Loan, hy vọng có được bước đột phá trong tranh chấp chủ quyền đảo Điếu Ngư. Tháng 12/2010, tại “Diễn đàn Đài Loan – Nhật Bản” lần thứ 9 tổ chức tại Đài Bắc, nhiều chính khách và thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Dân chủ Tự do ở Nhật Bản tham gia diễn đàn đã đồng thanh lên tiếng gác lại tranh chấp chủ quyền với Đài Loan, liên lạc trao đổi trước với nhau trong các công việc nghề cá; thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Kazama Naoki lần đầu tiên loan tải thông tin liên lạc thông suốt với Đài Loan về vấn đề tranh chấp đảo Điếu Ngư. Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Tự do Shore Nobuo đề xuất quân đội Đài Loan và Nhật Bản hợp tác an ninh trên biển, tổ chức diễn tập cứu hộ cứu nạn trên biển để tăng cường quan hệ song phương. Nhật Bản còn dựa vào cơ hội tái thiết sau thiên tai, dành một phần công việc khôi phục các nhà máy cho Khu trung tâm khoa học Đài Nam của Đài Loan. 
Sau khi nhận rõ ý đồ chiến lược của hai nước Mỹ - Nhật, một số nước ở Đông Nam Á cũng có ý đồ đe dọa, dụ dỗ Đài Loan để Đài Loan “xem xét lại chính sách một Trung Quốc”, đề phòng Đài Loan liên kết với Đại lục, gây bất lợi cho họ trong vấn đề Biển Đông. Đối với nhà cầm quyền Đài Loan vốn lệ thuộc nghiêm trọng vào Mỹ trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và an ninh thì liên kết với Đại lục sẽ là có ý đồ chiến lược chống lại Nhật Bản, tách khỏi “mặt trận dân chủ”, và như vậy nghĩa là “chiến lược an ninh quốc gia” lâu dài của Đài Loan đã thay đổi triệt để, điều đó đối với nhà cầm quyền Mã Anh Cửu, không nghi ngờ gì sẽ là một thách thức to lớn và khó có thể gánh chịu nổi. Vì thế, nhà cầm quyền Mã Anh Cửu với thực lực yếu nhược sẽ buộc phải liên tục cam kết ủng hộ “an ninh Mỹ - Nhật”, từ đó nhiều lần tỏ cho thấy “tuyệt đối không có chuyện liên kết với Trung Quốc chống lại Nhật Bản”. 
IV- Tư duy Chiến tranh Lạnh và trạng thái mơ hồ của tâm lý “thân Mỹ xa Trung Quốc” 
Tư duy Chiến tranh Lạnh và tâm lý “thân Mỹ xa Trung Quốc” tồn tại trên khắp Đài Loan. Trong tâm trạng đó phe màu Lam (Quốc dân đảng) ở Đài Loan không muốn thấy Đại lục hoàn toàn kiểm soát Biển Đông để làm “nguy hại đến” an ninh trên biển của Đài Loan nên lấy lập trường dân tộc làm ranh giới cuối cùng, hy vọng các bên duy trì cân bằng thế lực ở Biển Đông, đồng thời củng cố lực lượng phòng vệ hiện hữu của Đài Loan ở đây. Để hoàn thành việc đo vẽ bản đồ tầng san hô thềm lục địa ở vùng biển xung quanh Đài Loan, thể hiện với thế giới phạm vi vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế mà Đài Loan chủ trương, tháng 4 năm 2009 Đài Loan hợp tác với các nhà khoa học Mỹ đi trên tàu điều tra của Mỹ, tiến hành đo đạc tầng san hô ở vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa ở vùng biển Đông Sa mà chưa được Trung Quốc Đại lục cho phép, bị tàu hải giám ở khu vực thềm lục địa của Trung Quốc xua đuổi, Đài Loan cũng theo giọng nhà khoa học Mỹ trên tàu tuyên bố “hải quân Trung Quốc không có quyền đuổi chúng tôi!”, từ chối lệnh cảnh cáo của tàu hải giám đại lục yêu cầu rời khỏi khu vực đó. Tâm lý “thân Mỹ xa Trung” của nhà cầm quyền Đài Loan chỉ qua đó cũng thấy rõ toàn bộ. Tháng 8/2010, trong khi đến chào Viện trưởng Viện Lập pháp (Quốc hội) Đài Loan Vương Kim Bình, thượng nghị sĩ Mỹ Arlen Specter đã thắc mắc thái độ của Trung Quốc Đại lục trong vấn đề Biển Đông quá cứng rắn, Vương Kim Bình đã dẫn thực tế về việc Đài Loan “có quân trú đóng ở Biển Đông” làm dịu bớt được nghi ngờ của Mỹ, hàm ý bộc lộ trong đó cũng tương đối rõ ràng.
Phe màu Lục (Đảng Dân Tiến) lại càng cực lực ngăn cản việc hai bờ hợp tác bảo vệ chủ quyền coi đó như một công cụ để bao vây Trung Quốc nên họ đã đề xuất tư tưởng “liên kết với Nhật Bản để kiềm chế Trung Quốc” trong vấn đề Biển Đông. Có học giả thuộc phe màu Lục thậm chí còn đề xuất “lợi ích chiến lược của Đài Loan và Nhật Bản trong việc bao vây Trung Quốc là thống nhất nên phải thành lập cơ chế hợp tác an ninh trên biển với Nhật Bản”. Trong vấn đề Biển Đông, phe màu Lục đề xuất tăng cường quan hệ an ninh với Mỹ, Nhật Bản và các nước ASEAN, liên kết ngăn chặn lực lượng của Đại lục bành trướng ở Biển Đông. Tháng 9/2010, một bản báo cáo đánh giá của “giới tinh hoa Đài Loan” cho biết “Đài Loan không thể tiếp tục quá thân với Trung Quốc”, “tránh rơi vào tình thế ‘liên kết với Trung Quốc để kiềm chế bên ngoài’ phá vỡ chuỗi đảo bao vây”. Bài viết trong mục “Tuần chuyên luận” trên tờ “Thời báo tự do” cho rằng việc Mỹ thực hiện “chính sách lôi kéo đối với Trung Quốc đã cho kết quả hoàn toàn ngược lại”. “Vì thế hiện nay phải áp dụng chính sách hiện thực hơn, liên kết với nước châu Á ngăn chặn bá quyền Trung Quốc”, kêu gọi Mã Anh Cửu sớm tỉnh ngộ, không được “biến Đài Loan thành ‘Bắc Triều Tiên thứ hai’”.
Tác hại của tư duy Chiến tranh Lạnh và tác hại của tâm lý “gần Mỹ xa Trung” cũng như “liên kết với Nhật Bản chống Trung Quốc” cũng khiến cho nhà cầm quyền Mã Anh Cửu luôn có thái độ xa cách với Đại lục trong vấn đề đảo Điếu Ngư. 
V- Tính toán cân nhắc bầu cử 
Trong bối cảnh đối lập giữa hai xu hướng thống nhất và độc lập trên đảo như hiện nay, nếu hai bờ bắt tay trên bình diện chủ quyền, Quốc dân đảng lo ngại sẽ cho Đảng Dân tiến chiếc “chuôi cầm” để “lệch về trung gian bán Đài Loan”, không có lợi cho tình hình bầu cử “Ủy ban lập pháp” (Quốc hội) và bầu cử tổng thống. Sự khác biệt lớn nhất trong cách nhìn nhận của Đảng Dân Tiến về vấn đề Đảo Điếu Ngư so với nhà cầm quyền Mã Anh Cửu là ở chỗ, phải cố gắng hết sức xử lý vấn đề bằng cách định vị tranh chấp trong nghề cá để khỏi mắc lỗi với Mỹ và Nhật Bản. Đối với quan điểm chủ quyền của nhà cầm quyền Mã Anh Cửu và lập trường đối lập gay gắt với Nhật Bản trên bình diện này lại càng hết sức không chấp nhận được, vì vậy Đảng Dân Tiến đã nhiều lần công kích dữ dội, tô hồng để bôi đen việc làm của nhà cầm quyền Mã Anh Cửu trong các lần khủng hoảng ở Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Biển Đông, nói rằng Mã Anh Cửu đã “bằng mọi giá xa lánh đồng minh của Đài Loan như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc để tỏ lòng thành với Trung Quốc”, “mà lại cùng giọng với Trung Quốc và Bắc Triều Tiên”, “cùng căm thù kẻ địch chung với Trung Quốc”, “lập trường xa Nhật Bản gần Trung Quốc” của Mã Anh Cửu như vậy đã rõ. Về chính sách đối ngoại trong nhiệm kỳ thứ hai của Mã Anh Cửu, phe màu Lục (Đảng Dân tiến) cũng đề xuất quan điểm về vấn đề Mã Anh Cửu “quá coi trọng hai bờ, coi nhẹ Mỹ”. Ngô Chiêu Nhiếp, vị “đại diện thường trú tại Mỹ” đầu tiên của Đài Loan là người của Đảng Dân Tiến nói, “vấn đề quan trọng nhất trong quan hệ giữa Đài Loan và Mỹ là an ninh, phía Mỹ có phàn nàn về chi phí quân sự dành cho Đài Loan quá thấp. Tới đây, khi đẩy mạnh chế độ chiêu mộ quân toàn diện, kinh phí chi cho nhân sự sẽ nhiều hơn chi cho vũ khí, đó là một trong những lo ngại của phía Mỹ. Trong vấn đề khu vực, Đài Loan và Mỹ cũng cần hợp tác chặt chẽ hơn; Mỹ đề xướng tự do hàng hải ở Biển Đông, Đài Loan chưa tỏ thái độ; Trong sự kiện ‘tàu Cheonan’ năm 2011, việc tiếng nói ở hai bờ như nhau khiến Mỹ ngạc nhiên, nếu Đài Loan không chấp nhận ý kiến của phía Mỹ nhiều hơn nữa thì dần dần sẽ làm xói mòn độ tin cậy lẫn nhau giữa Đài Loan và Mỹ”.
Trong khi Đảng Dân tiến mượn thời để tự tung tự tác, gây chia rẽ, ly gián quan hệ giữa nhà cầm quyền Mã Anh Cửu với Mỹ và Nhật Bản, để làm lắng dịu nghi ngờ, nhà cầm quyền Mã Anh Cửu lại càng không thể dễ dàng mở rộng hợp tác với Đại lục. Về việc Bộ Quốc phòng Đại lục đề nghị “trên cơ sở nguyên tắc một nước Trung Quốc, vấn đề gì cũng có thể bàn được, trong đó bao gồm cả việc Đại lục dỡ bỏ tên lửa hướng tới Đài Loan”, ngày 30/7/2010, Ủy viên lập pháp thuộc Quốc dân Đảng Lâm Uất Phương cho biết Đài Loan “không thể lập tức chấp nhận trước đề nghị này, nếu không thì trong nước sẽ lập tức bị phe màu Lục chụp cho chiếc mũ đỏ, trên trường quốc tế cũng khó tránh khỏi băn khoăn lo lắng của các nước Mỹ, Nhật Bản, cho rằng Đài Loan quá ngả sang Trung Quốc”. Xã luận của “Thời báo Trung Quốc” ở Đài Loan ngày 18/9/2010 nói, hai bờ hợp tác làm một việc, “nhất là trong thời điểm này, bất đồng trong nội bộ Đài Loan vẫn lớn, tăng thêm rối loạn không cần thiết, không có lợi cho việc xây dựng tiếng nói chung”. 
Đặc biệt khi bước vào nhiệm kỳ hai, quỹ đạo phát triển hòa bình quan hệ hai bờ cơ bản đã được dọn đường, trọng tâm trong bốn năm tới của Mã Anh Cửu sẽ là mở rộng quan hệ quốc tế, trong đó trọng tâm ngoại giao sẽ là mở rộng quan hệ kinh tế thương mại. Mục tiêu trung tâm trong đó sẽ là sớm tham gia “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)”. Vì thế, để thực hiện mục tiêu này, việc củng cố quan hệ kinh tế thương mại với Mỹ, Nhật Bản, EU và các nước Đông Nam Á sẽ hết sức quan trọng đối với nhà cầm quyền Đài Loan hiện nay. Với động lực của lợi ích kinh tế thương mại, trong nhiệm kỳ này Mã Anh Cửu sẽ thực hiện đường lối thân Mỹ, tăng cường thêm một bước quan hệ tin cậy lẫn nhau giữa Mỹ và Đài Loan. Mã Anh Cửu đã nói với Chủ tịch Hiệp hội Mỹ tại Đài Loan Raymond F.Burghardt, “giữ cho quan hệ Đài Loan – Mỹ vững chắc và ổn định là hạt nhân trong chính sách ngoại giao của Trung Hoa Dân quốc”. Như vậy, Mã Anh Cửu một lần nữa lại cho thấy Đài Loan sẽ không bắt tay với Trung Quốc Đại lục can thiệp tranh chấp lãnh thổ với các nước xung quanh. Mã Anh Cửu nói “tất cả mọi việc làm có lợi cho an ninh và hòa bình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có thể ủng hộ, Đài Loan sẽ không bàn bạc với Đại lục về vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở châu Á, sẵn sàng hợp tác với nước khác cùng phát triển và tìm kiếm nguồn tài nguyên biển”. 
VI- Sự hiểu ngầm nào đó 
Từ trước đến nay chính sách của nhà cầm quyền Đài Loan là “không liên kết với Đại lục”, tự bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư, nhưng sau khi Mã Anh Cửu lên nắm quyền quan hệ hai bờ được cải thiện, giữa hai bờ tuy không có hành động công khai nhưng trong thực tế vẫn có sự hiểu ngầm nhau ở mức độ nào đó trong việc liên kết bảo vệ đảo Điếu Ngư. Trước mắt hai bờ vẫn chưa có được ý kiến thống nhất trong việc xác định địa vị chính trị của Đài Loan, Nhật Bản và thế lực “Đài Loan độc lập” trên đảo vẫn luôn mưu toan gây chia rẽ, lợi dụng bất đồng nói trên nhằm đạt mục đích chia để trị, nhưng nhà cầm quyền hai bờ đều có thể lấy đại cục làm trọng, tạm gác lại bất đồng đương đầu với Nhật Bản. Cả hai đều cho rằng “chủ quyền đảo Điếu Ngư thuộc về Trung Quốc” mà không truy cứu xem hàm nghĩa của “Trung Quốc” cuối cùng là gì. Thực tế mơ hồ như vậy đã để lại không gian cho hợp tác hai bờ. Chính sự hiểu ngầm đã tạo cơ sở để hai bờ hợp tác bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đó là sự hiểu ngầm lớn nhất. 
Hai nữa là sự hiểu ngầm trong hành động chống lại Nhật Bản. Năm 2008, tàu chiến Nhật Bản đã bắn chìm tàu cá “Liên hợp” của Đài Loan và bắt Trưởng tàu của Đài Loan. Trước việc làm như vậy, Đài Loan tích cực gây sức ép yêu cầu phía Nhật Bản thả người, xin lỗi và phải bồi thường. Chính phủ Trung Quốc cũng không nề hà thời cơ nhạy cảm sắp diễn ra Thế vận hội Olympic, đã phê chuẩn cho các nhân sĩ bảo vệ đảo Điếu Ngư mà trước đó chưa có tiền lệ được đến Đại sứ quán Nhật Bản tại Trung Quốc phản đối. Tháng 7/2010, tàu cá “Toàn gia phúc” của Đài Loan đến vùng biển thuộc đảo Điếu Ngư để thực hiện hành động bảo vệ Điếu Ngư, Sở hải tuần Đài Loan cũng điều tàu của mình đến bảo vệ, trong khi Đại lục tích cực giao thiệp với nhà cầm quyền Nhật Bản, cảnh cáo Nhật Bản “không được áp dụng bất cứ hành động nào gây tổn hại đến sự an toàn về người và tài sản của tất cả mọi người, trong đó có đồng bào Đài Loan”. 
Trước đây, hai bờ không thể chung tay bảo vệ đảo Điếu Ngư, trở ngại lớn nhất là trạng thái đối địch lâu dài giữa hai bờ, hai bên cơ bản thiếu tin cậy lẫn nhau. Cả hai tuy đều chủ trương “Trung Quốc” có chủ quyền ở đảo Điếu Ngư nhưng phía Đài Loan cho rằng quan hệ căng thẳng với Đại lục thậm chí có lúc còn nghiêm trọng hơn cả quan hệ đối đầu với Nhật Bản. Trong thời kỳ cầm quyền của cha con Tưởng Giới Thạch, sau đó là Lý Đăng Huy và Trần Thủy Biển, Đài Loan luôn coi Nhật Bản là đồng minh, thông qua Nhật Bản đối trọng với Đại lục. Trong khi xem xét các mâu thuẫn chính phụ, sự lựa chọn của nhà cầm quyền Đài Loan hiển nhiên là “không hợp tác với Đại lục bảo vệ đảo Điếu Ngư”. Sau khi Mã Anh Cửu lên nắm quyền, chính sách “hòa với Đại lục” của Mã Anh Cửu tuy vẫn còn khoảng cách so với chính sách “kết bạn” với Nhật Bản, nhưng quan hệ hai bờ cuối cùng đã xuất hiện bước ngoặt mang tính lịch sử, hai bên đã sơ bộ xây dựng lòng tin chính trị, giữ quan hệ tích cực. Trong điều kiện đó, nhân tố kìm hãm lớn nhất để hai bờ hợp tác đã được loại bỏ, hợp tác hai bờ đã xuất hiện cơ hội lịch sử mới. 
So với bất cứ nhà lãnh đạo nào ở Đài Loan, Mã Anh Cửu cũng là người có thái độ tích cực và lập trường kiên định nhất trong việc bảo vệ chủ quyền đảo Điếu Ngư. Trong “phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư” của những năm 1970 trước đây, Mã Anh Cửu đã là người tổ chức tích cực. Luận văn Tiến sĩ của Mã Anh Cửu ở Đại học Harvard cũng là vấn đề liên quan đến đảo Điếu Ngư, có tên “Bàn về vấn đề phân định ranh giới cụm đảo Điếu Ngư và Đông Hải (Hoa Đông) từ góc nhìn của luật biển mới”, luận văn này còn được xuất bản vào năm 1986. Sau khi lên nắm quyền, Mã Anh Cửu luôn tích cực ủng hộ hoạt động của những người bảo vệ đảo Điếu Ngư. Năm 2005, khi ngư dân Đài Loan bị Nhật Bản gây khó khăn trong tác nghiệp ở vùng biển thuộc đảo Điếu Ngư, với tư cách là Thị trưởng Đài Bắc, Mã Anh Cửu đã thể hiện ngôn luận về một trận “quyết chiến với Nhật Bản bằng mọi giá để bảo vệ đảo Điếu Ngư”. Năm 2008, sau khi trở thành nhà lãnh đạo Đài Loan, ngôn luận và chính sách của Mã Anh Cửu đối với Nhật Bản có phần thu hẹp, nhưng lập trường cơ bản vẫn chưa thay đổi. Tháng 11/2008, nhà cầm quyền Mã Anh Cửu đã phê chuẩn đơn xin của những người bảo vệ đảo Điếu Ngư trong dân chúng Đài Loan để thành lập “Hiệp hội bảo vệ Điếu Ngư Trung Hoa”, khiến cho phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư lần đầu tiên chính thức có tổ chức. Sau khi Nhật Bản đâm chìm tàu cá “Liên hợp” của Đài Loan, Mã Anh Cửu thậm chí còn phát đi tuyên bố có ý “động viên quân sự”. Người phát ngôn của Mã Anh Cửu lúc đó là Vương Uất Kỳ nói rằng “trong vấn đề đảo Điếu Ngư, Mã Anh Cửu trước đây là thanh niên có nhiệt huyết, nay vẫn là trung niên nhiệt huyết”. 
Ở mức độ nào đó, hai bờ cùng bảo vệ lợi ích biển đảo vừa là tiếng nói chung, cũng vừa là cơ sở dân ý trong việc hợp tác giữa hai bờ.
Theo Tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, số tháng 8/2012
Quốc Trung (gt)

Những bài học chiến lược từ bế tắc Trung-Nhật trong tranh chấp lãnh thổ


Những bài học chiến lược từ bế tắc Trung-Nhật trong tranh chấp lãnh thổ


Những diễn biến và hậu quả do cuộc đối đầu lãnh hải Trung Quốc-Nhật Bản có thể gây nên trong tương lai nếu căng thẳng tiếp tục diễn ra theo xu hướng cứng rắn của cả hai bên mà không được tháo gỡ một cách hòa bình.

Căng thẳng giữa Bắc Kinh và Tôkyô bùng phát sau khi Chính phủ Nhật Bản quyết định mua 3 hòn đảo thuộc quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) của các tư nhân Nhật Bản. Trung Quốc coi hành động mua bán này của Chính quyền Tôkyô nhằm mục đích sáp nhập quần đảo vào lãnh thổ Nhật Bản. Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền đảo Điếu Ngư/Senkaku và chính thức công bố các tọa độ địa lý của quần đảo để hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền và gửi tài liệu này lên Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon. 
Bắc Kinh bắt đầu tuyên bố chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ năm 2010. Trong thời gian đó, một tàu cá Trung Quốc lao vào 2 tàu tuần tra Nhật Bản ở vùng biển thuộc đảo Điếu Ngư/Senkaku. Cuộc đối đầu giữa hai nước tiếp tục diễn ra trong suốt hai năm qua do Trung Quốc thường xuyên áp dụng nhiều biện pháp để khẳng định quần đảo này thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhật Bản chiếm đảo Điếu Ngư/Senkaku sau khi đánh bại Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Nhật Bản năm 1895. Tiếp đó, Mỹ kiểm soát quần đảo sau khi đánh bại Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, nhưng Mỹ đã trao trả quần đảo này cho Nhật Bản theo Hiệp ước Đảm bảo An ninh Mỹ-Nhật năm 1960 và hiệp ước này được xây dựng trên cơ sở hiệp ước an ninh song phương Mỹ-Nhật năm 1951. Hiệp ước năm 1960 buộc Mỹ có trách nhiệm hỗ trợ Nhật Bản trong trường hợp bị tấn công và đảo Điếu Ngư/Senkaku cũng được hiệp ước này bảo vệ. Hành động quân sự quyết đoán của Bắc Kinh đối với vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải gây nên tình hình mất ổn định trong toàn bộ khu vực ít nhất trong 2-3 năm qua. Một trong những lý do khiến các nhân vật diều hâu hoặc theo đường lối cứng rắn ở Bắc Kinh cho rằng đến nay luận thuyết giấu mình chờ thời của Đặng Tiểu Bình không phù hợp nữa. Hiện nay, Trung Quốc đủ sức mạnh quân sự và kinh tế để khẳng định vị thế của mình trên thế giới. Một số quan chức Trung Quốc khác lại cho rằng hiện nay Mỹ đang suy yếu và Trung Quốc ngày càng phát triển. Và mặc dù tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, nhưng Trung Quốc không có xu hướng thụt lùi và cũng không muốn xung đột quân sự để gây nên những hậu quả không rõ ràng.
Thực tế, thời gian qua Trung Quốc thường xuyên gây sức ép với Nhật Bản về vấn đề tranh chấp lãnh hải. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cảnh báo Thủ tướng Yoshihiko Noda bên lề Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Vladivostok không được thúc đẩy vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku. Hiện nay Trung Quốc đã phái 16 tàu hải giám và các tàu thuyền khác thường xuyên hoạt động xung quanh đảo Điếu Ngư/Senkaku. Một nguồn tin khác do các phương tiện truyền thông Trung Quốc gần đây cho biết Trung Quốc đang có kế hoạch huy động hàng nghìn tàu cá đến hoạt động ở các vùng nước xung quanh đảo Điếu Ngư/Senkaku. Trong khi đó, cả hai chính phủ hiện đang vấp phải nhiều khó khăn chính trị trong nước. Tại Nhật Bản, các nhân vật theo đường lối cứng rắn, dưới sự lãnh đạo của Thị trưởng Tôkyô Shintara Ishihara, đang bao vây và tìm cách lật đổ Thủ tướng Noda, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc còn trong tình thế thậm chí khó khăn hơn. Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) sẽ được tổ chức trong tháng 11/2012 và sẽ mở ra sự thay đổi đội ngũ lãnh đạo cấp cao. Tuy nhiên uy tín của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các vụ bê bối chính trị ở cấp cao gây nên, trong đó phải kể đến vụ giết hại một người nước ngoài và cái chết của con trai nhà lãnh đạo cao cấp Lệnh Kế Hoạch trong một vụ tai nạn. Sự đồng thuận trước đó về việc phân chia quyền lực trong Bộ Chính trị và Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị dường như bị xáo trộn. Trong bối cảnh đó, không nhà lãnh đạo Trung Quốc nào có thể mềm mỏng với Nhật Bản. Hơn nữa, từ lâu Chính phủ Trung Quốc vẫn đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan và giáo dục dân chúng không tin tưởng người nước ngoài. 
Chắc chắn các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã hưởng lợi trong quá khứ bằng cách phát động các cuộc biểu tình đường phố và tấn công sứ quán nước ngoài và tài sản của họ. Chẳng hạn, sau khi xảy ra sự kiện máy bay Mỹ ném bom nhầm Sứ quán Trung Quốc ở Bêôgrát năm 1999 và vụ xung đột giữa máy bay chiến đấu của Trung Quốc với một máy bay do thám Mỹ năm 2001, các nhà chức trách Trung Quốc đã huy động dân chúng xuống đường biểu tình phản đối và tấn công Sứ quán và Lãnh sự Mỹ tại Trung Quốc. Tuy nhiên, lúc đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể kiểm soát và ra lệnh chấm dứt các cuộc biểu tình sau khi bày tỏ sự phản đối. Lần này, mặc dù tổ chức các cuộc biểu tình trên đường phố nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thấy khó có thể ngăn cản người biểu tình. Những người biểu tình tấn công bất cứ thứ gì của người Nhật Bản và lan rộng trên 80 thành phố khiến các nhà chức trách nhận thấy nguy cơ không thể kiểm soát. Vì vậy, một bài báo đăng trên trang web của Tân Hoa Xã ngày 16/9 đã thu hút sự chú ý của Chính phủ Nhật Bản về dư luận Trung Quốc và buộc họ phải xem lại hành động của mình. Bài báo cũng kêu gọi người biểu tình Trung Quốc cần thể hiện lòng yêu nước một cách "khôn ngoan" và không vi phạm pháp luật. Điều đó chứng tỏ chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn trong nội bộ.
Bên cạnh đó có 2 vấn đề khác cần quan tâm. Thứ nhất là vai trò của Mỹ. Sau khi bất đồng lãnh hải Trung Quốc-Nhật Bản gia tăng, Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Gary Locke tuyên bố Mỹ không đóng bất cứ vai trò nào trong cuộc xung đột này và hy vọng chính phủ hai nước sẽ giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Trong chuyến thăm Trung Quốc và Nhật Bản giữa tháng 9/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cũng có quan điểm tương tự và tỏ ra thận trọng khi đề cập đến vấn đề xung đột vũ trang xảy ra giữa hai nước. Nhưng tuyên bố gần đây trước Tiểu ban Thượng viện Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách Đông Á Kurt M. Campbell khẳng định hiệp ước năm 1960 buộc Mỹ phải có trách nhiệm hỗ trợ Nhật Bản nếu bị tấn công. Và hiệp ước đó bao gồm cả đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thứ hai là liệu cộng đồng quốc tế có thể ép Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp ra tòa án quốc tế của Liên Hợp Quốc. Và nếu Trung Quốc quyết định sử dụng sức mạnh quân sự phát động một cuộc chiến tranh trong thế kỷ 21 để thu hồi lãnh thổ mà Bắc Kinh tuyên bố bị mất trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Nhật Bản năm 1895, hành động đó sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trong thời điểm hiện tại, Trung Quốc dường như quyết định sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Nhật Bản. Bắc Kinh khẳng định rõ rằng Trung Quốc cũng sẽ bị thiệt hại, nhưng chắc chắn thiệt hại của Nhật Bản sẽ lớn hơn nhiều lần và thậm chí những thiệt hại đó sẽ đẩy lùi xã hội Nhật Bản trở lại quá khứ ít nhất 20 năm. Tất nhiên, một cuộc xung đột giữa hai nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới không thể không gây nên những hậu quả nghiêm trọng khác cho các nền kinh tế khác của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và bên ngoài khu vực. 
Trần Quang (gt)