Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

TIẾN TỚI CỘNG ĐỒNG ĐÔNG Á: HỢP TÁC CHÍNH TRỊ AN NINH - THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG


TIẾN TỚI CỘNG ĐỒNG ĐÔNG Á: HỢP TÁC CHÍNH TRỊ AN NINH - THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG





Trong thế giới sau Chiến tranh lạnh, đồng thời với sự phát triển của xu thế toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá. Chủ nghĩa khu vực là sự thoả hiệp giữa chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chủ nghĩa toàn cầu cả về địa chính trị và địa kinh tế.
Nói đến chủ nghĩa khu vực là nói đến nỗ lực thúc đẩy hợp tác kinh tế và an ninh từ ba nước trở lên trong một khu vực có giới hạn nhất định về địa lý và tuân theo những nguyên tắc chung. Xuất phát từ những đặc thù của khu vực Đông Á các nguyên tắc này có thể được gọi là “chủ nghĩa khu vực mở” đối với hợp tác kinh tế và “chủ nghĩa khu vực mềm” đối với hợp tác an ninh chính trị.
Khu vực Đông Á đang nổi lên là Trung tâm kinh tế và an ninh của thế giới. Đây là khu vực năng động nhất thế giới khi Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Nga, Ấn Độ và nhiều nước khác đang cạnh tranh về kinh tế và chiến lược. Thành công của khu vực này sẽ có tác động quyết định đến sự thịnh vượng và an ninh toàn cầu.*
Cũng cần lưu ý rằng, với tư cách là khu vực an ninh và kinh tế, Đông Á rất khác về nhiều khía cạnh với Châu Âu, Đại Tây Dương, nơi chủ nghĩa khu vực được cho là thành công nhất. Trước hết Đông Á đa dạng và nhiều cung bậc về lịch sử văn hoá, kinh tế, chính trị và nhận thức về mối đe doạ. Do những khác biệt này nhất là vẫn tồn tại kết cấu quân sự chính trị thời chiến tranh lạnh ở Đông Bắc Á, ý thức về chủ nghĩa khu vực tương đối chậm so với Châu Âu và Châu Mỹ, nhưng lại phát triển nhanh chóng mấy năm gần đây.
1) Hiện trạng hợp tác an ninh khu vực Đông Á
Thời gian gần đây tình hình an ninh khu vực Đông Á thể hiện ở mấy đặc điểm chủ yếu sau:
1.1. Bất chấp những nỗ lực kiềm chế của Mỹ, cục diện hình thành nhiều trung tâm quyền lực mới ở khu vực ngày càng bộc lộ rõ.
Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa các quốc gia chủ yếu ở khu vực Đông Á đã có sự điều chỉnh, hình thành cục diện hợp tác và kiềm chế lẫn nhau ở thế không cân bằng và biến động, xu thế đa cực hoá ngày càng phát triển. Về các mặt kinh tế, quân sự, Mỹ tuy bị suy giảm rõ rệt uy thế sau chiến tranh I-rắc, vẫn là một siêu cường duy nhất còn lại, tìm cách kiềm chế đối thủ tiềm tàng và kéo dài mãi địa vị siêu cường độc tôn của mình. Thực lực của Nga đã giảm sút, đang từng bước hồi phục, nhưng tiềm lực chính trị, quân sự, tài nguyên vẫn còn rất mạnh và là cường quốc duy nhất có thể đối kháng hạt nhân với Mỹ. Nhật Bản là cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, đang mưu cầu địa vị chính trị nước lớn, ra sức phát huy vai trò chính trị, an ninh của nhà nước “bình thường” trong khu vực và thế giới. Trung Quốc và gần đây cả Ấn Độ đang trỗi dậy mạnh mẽ trong hoà bình, địa vị quốc tế được nâng cao rõ rệt, có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của Đông Á và thế giới. ASEAN là một lực lượng chính trị khu vực mới nổi dậy và phát triển nhanh chóng thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Ảnh hưởng về chính trị và kinh tế của ASEAN không ngừng mở rộng. Xuất phát từ lợi ích của bản thân, đồng thời với việc tìm kiếm vai trò chủ đạo hợp tác kinh tế và an ninh khu vực, duy trì sự cân bằng lực lượng và mối quan hệ giữa các nước lớn, ASEAN cũng đòi hỏi sự bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ. Từ đó hành động của ASEAN có tác dụng kiềm chế nhất định chủ nghĩa bá quyền của các nước lớn trong khu vực.
Hiện nay, lực lượng của các nước lớn đang hội tụ ở Châu Á - Thái Bình Dương trong đó ảnh hưởng lớn nhất là Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản. Ba nước này hợp thành tam giác thực tế, cạnh Mỹ - Nhật là trục chính, cạnh Mỹ - Trung và Nhật - Trung không cân bằng, không ổn định. Xử lý tốt quan hệ tam giác Mỹ – Trung Quốc – Nhật Bản sao cho 3 cạnh được tương đối cân bằng, điều đó có liên quan đến hoà bình, ổn định và phát triển của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và thế giới.Trong quan hệ giữa các nước lớn và ASEAN, tam giác Trung – Nhật – ASEAN là động lực của sự hợp tác, liên kết, nhất thể hoá kinh tế, an ninh ... khu vực Đông Á. Mấy năm gần đây, quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ – Nhật được tăng cường mạnh mẽ lên cấp độ khu vực và toàn cầu, quan hệ Nhật – Trung về chính trị xấu đi rõ rệt, ảnh hưởng nhất định tới tiến độ thực hiện các kế hoạch hội nhập kinh tế chính trị khu vực Đông Bắc Á và cả Đông Á.  Ngược lại quan hệ hợp tác chiến lược Trung Nga cùng với Tổ chức Thượng Hải SCO (4 nước Trung Á và Trung Quốc, Nga) tiếp tục được tăng cường mạnh mẽ Quan hệ Mỹ – Ấn Độ, Trung Quốc – Ấn Độ, Trung Quốc – Hàn Quốc được cải thiện, đi vào hợp tác và cạnh tranh chiến lược.
Trong bối cảnh các nước lớn trong khu vực gia tăng cạnh tranh giành vai trò dẫn đầu, chủ đạo công việc của khu vực, ASEAN từ 5 nước lúc khởi đầu mở rộng thành 10 nước nhỏ và trung bình, có vai trò đặc thù trong việc tác động đến thế cân bằng giữa các nước lớn và với chính sách linh hoạt, mềm dẻo đã được các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chấp nhận là “động lực” chính (primary driving force) điều hoà các hoạt động liên kết hợp tác kinh tế, an ninh, chính trị toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
1. 2. Các cuộc tranh chấp, các điểm nóng trong khu vực từng lúc diễn biến rất phức tạp, căng thẳng, có xu thế đi vào hoà hoãn.
Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nhìn chung khu vực Đông Á chưa xảy ra chiến tranh cục bộ lớn giữa các nước, nhưng còn nhiều vấn đề lớn tồn tại trong khu vực như các điểm tranh chấp về lãnh thổ, biển đảo, dân tộc tôn giáo, mối hoài nghi, thiếu tin tưởng lẫn nhau do lịch sử để lại. Bên cạnh các vấn đề an ninh truyền thống trên còn tồn tại xen kẽ những vấn đề an ninh phi truyền thống hiện thực phức tạp. Hiện nay còn có 4 vấn đề lớn, “họa tiềm ẩn” về an ninh có thể phá vỡ sự ổn định của khu vực.
Một là kết cấu quân sự chính trị thời chiến tranh lạnh vẫn tồn tại ở Đông Bắc Á như sự chia cắt ở bán đảo Triều Tiên kéo theo sự triển khai quân sự đối kháng trong khu vực, vấn đề hạt nhân nổi bật của CHDCND Triều Tiên, vấn đề 4 hòn đảo phía Bắc Nhật Bản, vấn đề Đài Loan thuộc Trung Quốc, nếu xử lý không tốt sẽ dẫn tới tình trạng quan hệ quốc tế trong khu vực trở nên căng thẳng hơn, thậm chí bị cuốn hút vào xung đột quốc tế qui mô lớn.
Vấn đề thứ hai là tranh chấp lãnh thổ khu vực như quần đảo Hoàng Sa, Tây Sa, Paracels, Trường Sa, Nam Sa, Spratlys ở biển Đông, đảo Điếu Ngư/Sencaku biển Hoa Đông, đảo Dokdo,Takeshima biển Nhật Bản. Gần đây việc phát hiện nhiều tiềm năng dầu mỏ và khí đốt, ngư trường, hội tụ nhiều đường giao thông chiến lược trên biển và nhiều vùng biển chưa được phân định rõ ràng đã làm cho cuộc tranh chấp các đảo vùng biển trở nên phức tạp, căng thẳng quyết liệt hơn. Do những tranh chấp trên và các mâu thuẫn khác, quan hệ giữa Nhật Bản – Hàn Quốc trở nên lạnh giá, và quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc tụt xuống mức thấp nhất kể từ sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ từ năm 1972,hiện các nước này đang nỗ lực tháo gỡ.
Vấn đề thứ ba là các mối đe doạ an ninh phi truyền thống như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh trên biển, ô nhiễm môi trường, thảm họa do thiên tai, bệnh dịch truyền nhiễm, nạn buôn người… đòi hỏi sự hợp tác toàn khu vực và quốc tế mới từng bước  giải quyết được.
Vấn đề thứ tư là sự phát triển kinh tế, chính trị, quân sự không đồng đều, không cân đối trong từng nước và giữa các nước trong khu vực có thể dẫn tới khủng hoảng tài chính kinh tế, rối loạn chính trị, xã hội hay quan trọng hơn làm phá vỡ thế cân bằng chiến lược hoặc nguyên hiện trạng (status quo) của khu vực.
1.3. Đối thoại và hợp tác an ninh, chính trị tiếp tục phát triển rộng lớn và bước đầu đi vào thực chất.
Sau chiến tranh lạnh, nhất là từ cuối những năm 90 thế kỷ XX đến nay, khu vực Đông Á đã có hoà bình tương đối ổn định hiếm thấy trong lịch sử cận đại. Hoà bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của khu vực. Bắt đầu từ hội nghị thượng đỉnh không chính thức APEC họp tại Xi-tơn tháng 11/1993, “tuyên bố Bô-go” của APEC tháng 11/1994 đã khởi động tiến trình tự do hoá mậu dịch và đầu tư khu vực. Thông qua nhiều diễn đàn và hội nghị như Hội nghị ngoại trưởng ASEAN hàng năm, Hội nghị sau Hội nghị  Ngoại trưởng ASEAN với các nước ngoài khu vực và Diễn đàn khu vực ASEAN ARF và các Hội nghị ASEAN +1, ASEAN +3, Hội  nghị thượng đỉnh Đông Á, Tổ chức SCO... các nước trong khu vực đã từng bước triển khai hợp tác về chính trị, an ninh và kinh tế. Những sự hợp tác này đã phát huy tác dụng quan trọng trong việc tăng cường lòng tin và giảm mâu thuẫn chính trị giữa các nước trong khu vực. Trong xu thế chung đó, một số vấn đề an ninh về cơ bản được hoà hoãn và khống chế.
Việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải đã và đang trở thành vấn đề cấp bách sau khi Công ước LHQ về luật biển quốc tế có hiệu lực từ năm 1994. Các cuộc tranh chấp lãnh thổ tại các vùng biển Đông Bắc Á hiện đang nổi cộm lên giữa Trung Quốc - Nhật Bản và Hàn Quốc – Nhật Bản tiếp tục gây rắc rối, căng thẳng. Hầu hết lãnh thổ tranh chấp là các đảo nhỏ, phần lớn không có dân cư, đảo san hô và bãi đá ngầm. Nhưng số đảo này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nước tranh chấp, vì đây là chìa khoá kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá như các ngư trường, dầu mỏ, khí đốt, vùng biển và đáy biển bao quanh hoặc khống chế đường giao thông chiến lược. Nếu không được giải quyết một cách thoả đáng, các cuộc xung đột này có thể làm chậm lại sự hợp tác về nhiều vấn đề còn quan trọng hơn đối với nhân dân các nước trong khu vực. Các nước liên quan nên nghiêm túc khẳng định cam kết giải quyết tất cả các cuộc tranh chấp một cách hoà bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và đảm bảo tự do hàng hải. Mặt khác họ cần bày tỏ thiện chí mở thương lượng để tìm giải pháp, ủng hộ các cuộc đối thoại bổ ích giống như một diễn đàn Inđônêxia đỡ đầu trước đây, thu hút 6 nước tranh chấp quần đảo Trường Sa đối thoại xây dựng với nhau hoặc theo gương tự nguyện của Inđônêxia, Malaixia và Xingapo đưa một số tranh chấp hải đảo ra Toà án quốc tế (10/1996).
2. Tiến tới Cộng Đồng Đông Á: lựa chọn mô thức hợp tác chính trị, an ninh – thách thức và triển vọng.
Đông Á là hệ thống quốc tế có nét đặc thù khu vực riêng. Thời kỳ chiến tranh lạnh, mô thức cơ bản của cấu trúc an ninh Đông Á là liên minh quân sự song phương mang tính đối kháng quyết liệt do Mỹ và Liên Xô dẫn đầu. Sau chiến tranh lạnh, hướng Đông Bắc Á kết cấu chiến tranh lạnh về cơ bản vẫn tồn tại, tạo ra môi trường an ninh khu vực khó khăn phức tạp, từng lúc đối đầu căng thẳng.
Ở hướng Đông Nam Á, kết cấu chiến tranh lạnh bị tan vỡ, không còn hệ thống căn cứ, lực lượng lớn của 2 siêu cường (khối SEATO bị giải thể, liên minh theo Hiệp ước cũ Mỹ với Philíppin và Thái Lan vẫn còn nhưng đã phai nhạt), ASEAN phát triển bao trùm toàn bộ Đông Nam Á, môi trường an ninh khu vực từ “chiến trường chuyển sang thị trường”.
Trước bối cảnh quốc tế và khu vực mới, phần lớn các nước trong khu vực trước hết là ASEAN nảy sinh thay đổi ý thức, tư duy an ninh và trên cơ sở đó đưa ra chiến lược an ninh mới. Trong lý luận an ninh mới, ASEAN nhấn mạnh quan niệm an ninh tổng hợp (comprehensive security), an ninh hợp tác (cooperative security) và an ninh chung (common security). Khái niệm an ninh tổng hợp không phải do ASEAN nêu ra đầu tiên, mà nó bắt nguồn từ phương Tây, nhưng cho tới tận những năm 60 thế kỷ trước vẫn chưa được chú trọng đầy đủ. Sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 70 thế kỷ XX, một số nước phát triển nhất là Nhật Bản đã đưa ra vận dụng vào chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại. Quan niệm an ninh tổng hợp của ASEAN bao quát ba điểm chính: mục tiêu là sự ổn định chính trị trong nước và phát triển kinh tế – xã hội; thúc đẩy đoàn kết các dân tộc và liên kết xã hội; và xây dựng lực lượng quân sự cân bằng giữa ba quân chủng và mặc dù quân sự cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này, nhưng chính sách chính trị kinh tế  xã hội còn quan trọng hơn. Phương án an ninh tổng hợp hay an ninh toàn diện của ASEAN có 3 mức: quốc gia, giữa các nước ASEAN và giữa ASEAN và các nước còn lại của khu vực. Về quan niệm an ninh hợp tác nhấn mạnh việc cùng tham dự và giải quyết tranh chấp có lợi cho tất cả các quốc gia, cùng phồn vinh, phản đối một phía nào đó liên kết với nước khác gây áp lực, duy trì nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng hiệp thương hoà bình, nhất trí bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, cùng tiến lên tuần tự phù hợp với trình độ và nguyện vọng của các nước tham dự.
2.1. Mô thức an ninh Đông  Á: hợp tác, mâu thuẫn và hạn chế.
Sau chiến tranh lạnh, Đông Á đã xuất hiện cục diện cùng tồn tại nhiều mô thức của cơ cấu an ninh. Trong việc bảo đảm an ninh Đông Á hiện nay mô thức an ninh truyền thống lấy liên minh chính trị quân sự mang tính đối kháng làm hình thức chủ yếu vẫn chiếm địa vị chủ đạo. Trong khi đó mô thức an ninh hợp tác lấy Diễn đàn Khu vực ASEAN ARF làm chủ đạo đã thể hiện rõ triển vọng phát triển và sức sống dồi dào. Về lâu dài vấn đề đặt ra là hai loại mô thức an ninh cũ và mới của an ninh Đông Á tương tác lẫn nhau, có mặt bổ trợ, có mặt mâu thuẫn, bài xích lẫn nhau, hiện có cùng tồn tại lâu dài hay là có thể chuyển hoá, biến đổi toàn diện trong khoảng thời gian không lâu?
a. An ninh hợp tác
Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN ARF được thành lập trên cơ sở Hội nghị các nước đối thoại sau Hội nghị ngoại trưởng ASEAN được chọn làm hình thức ban đầu của hợp tác an ninh  nhiều bên của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Đây là cơ chế an ninh “mềm” và “mở” có nhiều mặt phù hợp với trào lưu thời đại và đặc điểm khu vực. Trước hết tổ chức này mang tính bao dung. Nó làm cho các nước trong khu vực dù là nước lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, quan hệ tốt hay xấu, bình thường hay xung đột ngồi lại với nhau bàn bạc một cách bình đẳng. Hai là về biện pháp, nhấn mạnh tính chính trị, tính hợp tác,tính phù hợp và tính đồng thuận, tức là các nước tham dự tự nguyện thông qua đối thoại, tìm ra giải pháp hợp tác theo nguyên tắc nhất trí và phù hợp với thực tế của tình hình khu vực và từng nước. Ba là về mục đích của ARF, nhấn mạnh tính an ninh chung tức là đặt ra mục tiêu tìm kiếm an ninh chung cho các nước tham dự. Việc tìm kiếm này là kết quả tốt nhất của lợi ích an ninh nước mình và lợi ích an ninh khu vực.
ARF đã có bước phát triển cụ thể kể từ sau Hội nghị đầu tiên tổ chức ở Băng Cốc tháng 7/1994, Hội nghị lần thứ hai tổ chức ở Brunei tháng 8/1995 đã xác định phương thức xử lý khủng hoảng, tranh chấp theo 3 giai đoạn để từng bước đạt tới nhận thức chung và tiến tới giải quyết một số vấn đề an ninh. Đó là xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột. Tại Hội nghị lần thứ ba hợp tác tại Giacácta tháng 7/1996. Diễn đàn đã thông qua được cơ sở và tiêu chuẩn mở rộng thêm thành viên mới (các nước muốn tham dự phải ký kết chấp nhận Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác TAC và thừa nhận lấy ASEAN đóng vai trò động lực). Tại Hội nghị lần này Myanma và Ấn Độ được tham dự. Đến nay ARF từ 16 nước tham dự lúc khởi đầu đã lên 26 nước. Từ đó làm rõ ý nghĩa của ARF không chỉ hạn chế ở an ninh khu vực Đông Nam Á mà cả Châu Á - Thái Bình Dương.
Từ ngày thành lập đến nay, Diễn đàn khu vực ASEAN ARF đã thu được nhiều thành tựu lớn như qua diễn đàn giúp cho các nước tăng thêm hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, đóng góp tích cực vào hoà bình và ổn định của khu vực và bản thân từng thành viên. Tuy nhiên do Diễn đàn ARF là một cơ chế “mềm” chủ yếu thông qua hiệp thương bình đẳng giữa các nước thành viên nhằm đạt tới nhận thức chung và thông qua biện pháp bảo đảm an ninh theo nguyên tắc nhất trí, tự nguyện, không có qui phạm ràng buộc, cưỡng chế và đến nay vẫn dừng lại ở giai đoạn xây dựng lòng tin và ngoại giao mang tính dự phòng. Trên cơ sở những thành tựu ban đầu , các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN và ASEAN+3 sẽ từng bước tiến lên tìm ra cơ chế bảo đảm an ninh khu vực hiệu quả hơn.
b. Liên minh quân sự
Liên minh quân sự là một hệ thống cơ cấu, có nghĩa vụ ràng buộc lẫn nhau, có lực chi phối, còn cơ chế “an ninh hợp tác” ARF thì không có các chức năng trên. Liên minh quân sự nhấn mạnh tính răn đe, tính đối kháng, tính cân bằng lực lượng hay giành ưu thế để đạt được mục tiêu an ninh của các thành viên và từ đó đe doạ an ninh của các nước không phải là thành viên.
Một số liên minh quân sự song phương và đơn phương trong khu vực từ thời chiến tranh lạnh vẫn còn bảo lưu, liên minh quân sự Mỹ – Nhật được tăng cường.
Năm 1996, Mỹ lần lượt ký với Nhật Bản “Tuyên bố chung an ninh Nhật – Mỹ” và với Ôxtrâylia “Tuyên bố Xítnây” và sau đó một loạt văn kiện liên quan nhằm tăng cường liên minh quân sự song phương. Đánh giá liên minh quân sự Nhật – Mỹ là vấn đề phức tạp. Trước đây Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ, một mặt nhằm vào Liên Xô cũ, mặt khác trên mức độ nào đó nhằm hạn chế sự phát triển vũ trang của Nhật Bản, thì ngày nay nó cổ vũ, hỗ trợ Nhật phát triển quân sự và nâng cao, mở rộng vai trò quân sự, an ninh trong khu vực và trên thế giới. Tất nhiên, tất cả những điều đó phải nằm trong quỹ đạo chiến lược của Mỹ. Trước mắt nhằm chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế và tích cực chuẩn bị lực lượng dự phòng, ngăn chặn đối thủ chiến lược toàn cầu mới từ hướng Đông Á, Mỹ đang triển khai lại lực lượng quân sự ở Hàn Quốc, Nhật Bản, đảo Guam và hướng Đông Nam Á.
Trong chiến lược hợp tác an ninh nhiều bên và quan hệ đồng minh quân sự song phương, Mỹ lấy hợp tác nhiều bên bổ sung cho liên minh song phương của mình và hợp tác an ninh nhiều bên ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương không được gây nguy hại cho liên minh song phương của Mỹ.
Như vậy, liên minh quân sự là mô thức truyền thống lấy cân bằng đối kháng để mưu cầu an ninh, đến nay chỉ có một số nhỏ nước Đông Á tham gia đang gặp sự phản đối ngày càng gia tăng của nhân dân các nước sở tại có căn cứ và lực lượng Mỹ đóng quân. Tuy đã nhiều lần bị thất bại, Mỹ vần chưa từ bỏ ý đồ biến liên minh quân sự của họ ở Đông Á - Thái Bình Dương thành một kiểu NATO nhỏ phương Đông – nhất là trong bối cảnh Mỹ đang chuyển trọng điểm bố trí chiến lược sang Châu Á - Thái Bình Dương và tăng cường liên minh Mỹ – Nhật - Ôtrâylia.
Từ sự phân tích trên cho thấy sự kết thúc chiến tranh lạnh không đưa tới những thay đổi căn bản trong quan hệ an ninh và sự phân chia lại quyền lực giữa các nước lớn nhất là ở khu vực Đông Bắc Á. Tuy nhiên, cũng có một số biến đổi trong kết cấu khu vực Đông Á. Nổi bật nhất là vai trò chính trị, kinh tế, an ninh của các nước nhỏ và trung bình ASEAN được nâng cao rõ rệt, vượt ra ngoài phạm vi khu vực Đông Nam Á. Đây là điều khác biệt với Châu Âu, nơi các nước lớn nắm quyền lãnh đạo.
Hiện trạng vừa mâu thuẫn, xung đột vừa đối thoại, hợp tác giữa các thể chế an ninh khu vực Đông á có thể còn kéo dài. Điều này không những không cản trở được mà còn nói lên yêu cầu cấp thiết phải tìm ra lối thoát, từng bước tiến lên xây dựng thể chế an ninh Đông Á ở cấp độ cao hơn. Gần đây các nước Đông Á đã đạt được nhận thức chung trong việc tiến tới xây dựng Cộng Đồng Đông á. Hướng tới mục tiêu đó, ASEAN đã đi trước một bước. Việc xây dựng Cộng Đồng Asean với 3 trụ cột: an ninh, kinh tế, văn hoá xã hội đang thúc đẩy, cổ vũ nỗ lực tiến tới xây dựng Cộng Đồng Đông Á.
2.2. Bước đầu tiên hướng tới xây dựng Cộng Đồng Đông Á bao gồm cả hợp tác chính trị, an ninh.
Kết thúc Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) đầu tiên ngày 14-12-2005 ở Cuala Lămpơ, 16 nhà lãnh đạo tham dự đã cam kết về lâu dài hướng tới xây dựng Cộng Đồng Đông Á. Phát biểu trong hội nghị này, thủ tướng Malaixia Ahmad Badavi nhấn mạnh rằng Cộng Đồng Đông Á sẽ trở thành hiện thực do sự hợp tác trong khu vực được củng cố và phát triển. “Những lợi ích chung về chiến lược và kinh tế” là những lý do chủ yếu giải thích tại sao Ôxtrâylia, NiuDiLân và Ấn Độ, về địa lý không thuộc Đông Á lại tham gia hội nghị này. Nước Nga là nhà nước liên bang Âu - Á được mời tham dự với tư cách là khách mời, Nga xin tham dự với tư cách thành viên nhưng ASEAN đã quyết định tạm ngừng tiếp nhận thêm thành viên mới trong 2 năm .
Ý tưởng xây dựng Cộng Đồng Đông Á (EAC) lần đầu tiên được nêu ra năm 1990, khi Thủ tướng Malaixia lúc đó là Mahatir Mohamad đã nêu ra dự kiến thiết lập Tập đoàn kinh tế  Đông Á . Nhưng ý tưởng này gặp sự phản đối của Mỹ và của Tổng thống Inđônêxia Suhartô. Lúc đó ông Suhartô nói rằng thời điểm chưa thích hợp để thành lập tổ chức này (theo báo Bưu điện Giacácta ngày 9/5/2006).Vào thời điểm này,ý tưởng xây dựng Tập đoàn kinh tế Đông Á là nhằm đối trọng với các khối Tây Âu Bắc Mỹ.Ngày nay Cộng Đồng Đông Á là khái niệm “mở” nhưng mở tới đâu? Nhật Bản đề nghị bao gồm cả Mỹ còn cựu tổng thông Philippin F.Ramos mới đây trên tờ  Nguyệt San Kinh tê Viễn Đông tháng Năm 2005 nêu ra ý tưởng thay thế nền “Hoà Bình Mỹ” bằng nền “Hoà Bình Châu Á –Thái Bình Dương” thu nạp cả Mỹ và Canađa. Đáng chú ý cũng như một số chính khách Châu Á khác, ngài F.Ramos vẫn cho rằng quân Mỹ triển khai trong khu vực là “rường cột” của sự cân bằng lực lượng bảo đảm hoà bình và an ninh khu vực, tiếp tục ở lại trong khu vực.
Tuyên bố CuaLămpơ ngày 14/12/2005 của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á đã nêu ra nguyên tắc, mục tiêu, lĩnh vực hợp tác và các thể thức chủ yếu (primary modalities).
Đặc tính của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á họp hàng năm là “Diễn đàn mở, bao dung (inclusive), minh bạch và hướng ngoại… Mong muốn xây dựng môi trường hoà bình, trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng, đối tác, hiệp thương và đồng thuận” nhằm đạt mục tiêu đem lại “hoà bình, an ninh và phồn vinh cho Đông Á và thế giới”.
Hội nghị hoan nghênh ASEAN xây dựng “Cộng Đồng ASEAN, xem đây là một bộ phận hợp thành của cơ cấu khu vực Đông Á đang tiến triển”. Lĩnh vực quan tâm của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tập trung vào “thúc đẩy đối thoại chiến lược và xúc tiến hợp tác chính trị và an ninh”; “Đẩy mạnh phát triển, ổn định tài chính, an ninh năng lượng...”; “Làm sâu sắc sự am hiểu văn hoá, tiếp xúc giữa người dân...”.
Động lực thúc đẩy việc xây dựng Cộng Đồng Đông Á là ASEAN phối hợp chặt chẽ với ASEAN +3 tiếp tục họp hàng năm đồng thời với Hội nghị ASEAN hàng năm và Hội nghị thượng đỉnh Đồng Á hàng năm.
Từ tầm nhìn Asean 2020 (Hà Nội) “hướng tới sự  gắn  kết và nhất thể hoá kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên”, đi tới hành động. Năm 2003 tại Ba-Li, các nhà lãnh đạo ASEAN đã phác thảo khuôn khổ của Cộng Đồng ASEAN. Đến tháng 11/2004, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Viên.chăn quyết định cơ cấu va Kế hoạch hành động của Cộng Đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột: an ninh, kinh tế và văn hoá xã hội.
Về Kế hoạch hành động an ninh, xây dựng hợp tác an ninh khu vực cấp độ cao hơn – an ninh cộng đồng với năm thành tố sau:
+  Phát triển chính trị (nhân quyền, tự do thông tin, tăng cường hạ tầng luật pháp, chống tham nhũng...)
+  Xây dựng các chuẩn mực (shaping and sharing of norms) để kiến tạo môi trường công lý, dân chủ và hoà hợp bao gồm thảo ra Hiến chương ASEAN.
+ Dự phòng xung đột (họp Bộ trưởng quốc phòng hàng năm...)
+ Giải quyết xung đột (conflict resolution)
+ Kiến tạo hoà bình sau xung đột...
Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ hai ở  Xebu, Philippin  (15-1-2007) ra Tuyên bố  về an ninh năng lượng, nhất trí tiếp tục ủng hộ ASEAN đóng vai trò chủ đạo trong các tiến trình khu vực và thúc đẩy hợp tác trên 5 lĩnh vực ưu tiên là năng lượng, tài chánh, giáo dục, phòng chống cúm gia cầm và giảm nhẹ thiên tai.
Hợp tác chính trị, an ninh trong Cộng đồng ASEAN đi trước một bước, có thể là hình mẫu của hợp tác chính trị an ninh Công Đồng Đông Á sau này.
Một vấn đề đặt ra liệu Cộng Đồng An ninh Đông Á sau này có khả năng phát triển thành Liên hiệp Đông Á với chính sách đối ngoại chung và quốc phòng chung trên cơ sở các thành viên vẫn giữ độc lập chủ quyền  nhất định.
Tóm lại
Hiện nay và trong một khoảng thời gian khá dài sau này, đặc trưng chung của vấn đề an ninh Đông Á là những vấn đề an ninh do thời chiến tranh lạnh để lại cùng tồn tại với một số vấn đề an ninh mới nẩy sinh sau chiến tranh lạnh; các mô thức và thể chế an ninh cũ và mới tiếp tục cùng tồn tại, mâu thuẫn xen kẽ với hợp tác theo nhiều cấp độ, nhiều kênh (chính thức và không chính thức). Đồng thời ASEAN, ASEAN+3 và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á hàng năm sẽ tiếp tục tìm tòi, kiến tạo hợp tác an ninh cộng đồng thông qua Cộng Đồng ASEAN (đi trước) và tiếp đó Cộng Đồng an ninh Đông Á “mở và “mềm”.
Do Cộng đồng an ninh Đông Á đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân và Chính phủ các nước Đông Á, đại diện cho con đường phát triển đúng đắn của việc bảo đảm an ninh Đông Á, cùng với sự hình thành quan niệm giá trị Châu Á, tôn trọng sự khác biệt và hoà hợp và tăng cường sức mạnh qui tụ, mô thức an ninh khu vực Đông Á trong tương lai – vừa rút bài học kinh nghiệm của Châu Âu, vừa xuất phát từ đặc trưng phương Đông, sẽ hình thành một hệ thống hợp tác chính trị  an ninh riêng, mang đậm màu sắc khu vực.
TRẦN BÁ KHOA
(Viện Nghiên cứu Chiến lược)



TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Fidel V.Ramos, Frameworks for Asian Cooperation, Toward a Pax Asia – Pacifica, Far Eastern Economic Review, May  2005.
  2. 2. Daljit Singh,  The evolution of Southeast Asian security cooperation since 1945, Defence attache  Jakarta 15/12/1997.
  3. Kuala Lumpur Declaration on East Asea Summit, 14/12/2005.
  4. Chairman`s statement of  the thirtheenth Asean Regional Forum, Kula Lumpur, 28  July 2006Chairmanstatement of the 2nd East Asea summit 15-1-2007.
  5. Chairman’statement of the First East Asia Summit, Kuala Lumpur - 14/12/2005.
  6. Annex for ASEAN security Community Plan of action, Vientiane, 11/2004.
  7. Co-chair’s summary report of the ARF workshop on “Evolving changes in the security perception of the ARF countries”, Ulanbataar, 21-22/6/2005;
  8. H.E. OngKeng Young secretary General of Asean, “Leadership and Strategic Vision for the Development of East Asia”, 25/4/2006.

Những nhân tố thúc đẩy và hạn chế hợp tác an ninh chính trị Việt Nam - Asean trong 5 năm qua


Những nhân tố thúc đẩy và hạn chế hợp tác an ninh chính trị Việt Nam - Asean trong 5 năm qua
Tác giả: Ngô Hữu Mạnh.
Việt Nam gia nhập ASEAN tháng 7/1995 là một quyết định đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với xu thế hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển, xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa trên thế giới và đặc biệt là phù hợp với lợi ích quốc gia của ta. Trong quá trình tham gia hợp tác và hội nhập vào ASEAN, chúng ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng đồng thời cũng gặp không ít những khó khăn. Xét trên góc độ hợp tác về an ninh, chính trị, nhờ một số nhân tố thúc đẩy chúng ta đã gặt hái được những thành quả đáng khích lệ, đồng thời cũng có những nhân tố hạn chế sự hợp tác, hai loại nhân tố này thường đan xen và tác động lẫn nhau, đòi hỏi chúng ta phải có nỗ lực lớn trong tiến trình hợp tác và đảm bảo an ninh, chính trị trong khu vực.
I. Những nhân tố thúc đẩy sự hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN:
1. Tác động của bối cảnh quốc tế:
Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, các nước XHCN còn lại tiếp tục cải cách, đổi mới và đã thu được những thành tựu bước đầu khẳng định vai trò vị trí của mình trong khu vực và thế giới, khẳng định tính tất yếu của thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa có ưu thế hơn các nước XHCN đang tìm mọi cách gây sức ép về chính trị, kinh tế, quân sự, áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền, tiếp tục sử dụng chiến lược diễn biến hòa bình nhằm thu hẹp dần phạm vi, ảnh hưởng tiến tới thủ tiêu các nước XHCN còn lại; các nước đang phát triển đang có xu hướng đoàn kết lại nhằm chống lại sự áp đặt của các nước lớn vì lợi ích của quốc gia - dân tộc mình.
Bối cảnh quốc tế đó đang tạo ra cục diện mới tập hợp lực lượng trong cuộc đấu tranh giữa các nước XHCN với các nước TBCN, giữa các trung tâm tư bản với nhau, giữa các nước đang phát triển với chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản trong lòng Chủ nghĩa đế quốc ngày càng phức tạp, đa dạng, nhiều chiều và xuất hiện nhiều hình thái mới đan xen.
Tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng thông tin trong hai thập niên cuối thế kỷ XX vẫn tiếp tục phát huy sức mạnh đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hội, an ninh, quân sự của thế giới. Các quốc gia trên thế giới càng phụ thuộc nhau, ảnh hưởng đến nhau nhiều hơn, ranh giới chủ quyền quốc gia suy giảm, xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề toàn cầu đòi hỏi các quốc gia phải cố gắng hợp tác để cùng nhau giải quyết mới có hiệu quả.
Cục diện mới này dẫn đến hệ quả : chiến tranh lớn giữa các nước, các khu vực khó xảy ra vì lợi ích đan xen; nhưng chiến tranh nhỏ : xung đột khu vực, mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh thương mại, chiến tranh thông tin, điện tử gia tăng. Nhưng nhìn về tổng thể, xu thế hòa bình ổn định tương đối và hợp tác để phát triển vẫn là xu thế chính hiện nay.
Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới tiếp tục gia tăng với cường độ ngày càng lớn, các nước tư bản phát triển có nhiều lợi thế trong cuộc cạnh tranh quốc tế do nắm được tiềm lực vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý nên ngày càng trở nên giàu có, ngược lại các nước đang phát triển, kém phát triển bị thua thiệt nhiều, dẫn đến khoảng cách giầu nghèo ngày càng gia tăng giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển, giữa các khu vực khác nhau trên thế giới. Các nước tư bản phát triển lợi dụng xu thế quốc tế hóa, khu vực hóa và toàn cầu hóa để áp đặt những giá trị phương Tây lên các nước đang phát triển nên đã và đang tạo ra xu thế tập hợp lực lượng mới ở các nước thế giới thứ ba.
Trật tự kinh tế, chính trị thế giới đang trong quá trình hình thành. Hiện nay Mỹ đang có ưu thế sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ lớn nhất trên thế giới, nhưng Mỹ chưa đủ sức chi phối thế giới mặc dù Mỹ có mặt ở khắp mọi nơi. Các quốc gia, các liên minh kinh tế đang trỗi dậy như Trung Quốc, Nga, Â'n Độ, Nhật Bản, EU, ASEAN đang trở thành những thách thức lớn đối với Mỹ, đang liên kết với nhau nhằm chống lại và làm suy yếu thế "một cực" hiện nay của Mỹ để thành lập một thế giới "đa cực".
2. Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn:
Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, các nước lớn liên tục điều chỉnh chiến lược quốc tế, khu vực và chiến lược quốc gia của mình để thích ứng với bối cảnh quốc tế mới, đồng thời từng bước triển khai, thử nghiệm những mục tiêu, biện pháp chiến lược mới trên qui mô khu vực và thế giới. Chiến lược của các nước lớn cơ bản đã được định hình , tuy nhiên từng nước vẫn còn phải tiếp tục điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện khách quan cho phép. Cơ sở hoạch định các chiến lược của các nước lớn đều xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc kết hợp lợi ích khu vực nhằm hướng tới lợi ích cân bằng chiến lược trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên do lợi ích quốc gia và tham vọng khác nhau của các nước lớn nên việc triển khai và tổ chức thực hiện chiến lược đã xâm hại đến lợi ích quốc gia của các nước khác; Các nước có lợi ích tương đồng có xu hướng liên kết với nhau hình thành lên các tuyến, các khu vực có lợi ích khác nhau đan xen nhau, cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia dân tộc trở thành tiêu điểm trong việc giải quyết các quan hệ quốc tế.
Mỹ: Vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược toàn cầu trong thập niên 90 là lãnh đạo thế giới hướng tới mục tiêu bảo đảm an ninh quốc gia Mỹ, một nền kinh tế thịnh vượng và thúc đẩy các nền dân chủ trên thế giới. Mỹ đang từng bước điều chỉnh chiến lược can dự và mở rộng trong thập niên 90 sang chiến lược can dự và hợp tác (còn gọi là chiến lược can dự mang tính xây dựng hay chiến lược định hình). Chiến lược can dự và hợp tác của Mỹ tạo thành một vành đai an ninh xuyên suốt từ Âu sang A', một mặt Mỹ củng cố và tăng cường sức mạnh của NATO ở Châu Âu, mặt khác tăng cường hợp tác an ninh ở Châu A' - Thái Bình Dương với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo, Philipin, U'c trong đó hợp tác an ninh Nhật - Mỹ là trục chính đảm bảo cho Mỹ triển khai thế chiến lược toàn cầu của khu vực.
Trung Quốc: Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc về kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học công nghệ trong hai thập niên 80 và 90 đã và đang trở thành mối đe dọa và thách thức lớn nhất đối với địa vị thống trị toàn cầu của Mỹ. Trung Quốc hiện chưa có chiến lược toàn cầu thành văn nhưng kế hoạch 4 hiện đại của Trung Quốc được vạch ra từ Đại hội XI tiếp tục được bổ xung điều chỉnh ở các đại hội sau cho đến đại hội XV cho thấy rõ mục tiêu chiến lược của Trung Quốc nỗ lực trở thành cường quốc khu vực và thế giới đang trở thành hiện hữu. Trung Quốc đang tạo ra thế và lực của mình trong khu vực, cố gắng liên kết với Nga, Â'n Độ tạo nên thế đối trọng với Mỹ trong việc giải quyết các mối quan hệ quốc tế.
Nga: Sau một thập niên khủng hoảng chính trị, kinh tế - xã hội, vị trí cường quốc của Nga bị suy giảm nhiều, tuy nhiên Nga vẫn là cường quốc quân sự (chỉ đứng sau Mỹ về tiềm lực quân sự, và cân bằng với Mỹ về tiềm lực hạt nhân), do đó Nga vẫn có những tiếng nói nhất định trong việc giải quyết các mối quan hệ quốc tế.
Mục tiêu chiến lược của Nga là giành lại vị trí siêu cường đã mất, trên cơ sở tăng cường nội lực mở rộng quan hệ với nước ngoài, thu hút vốn đầu tư, tăng cường tiềm lực quốc phòng, kiềm chế Mỹ trong việc giảm thiếu vũ khí hạt nhân, sửa đổi học thuyết quân sự mới trong việc giành chủ động vũ khí hạt nhân nhằm đối phó với chiến lược an ninh mới của NATO nhằm vào Nga và các nước đồng minh của Nga. Nga và Trung Quốc có lợi ích tương đồng trong việc kiềm chế thế "đơn cực" của Mỹ, do đó Nga ra sức tăng cường hợp tác với Trung Quốc trên nhiều phương diện cả chính trị, quân sự và kinh tế, củng cố Liên bang Nga - Belarus, tiếp tục mở rộng đối với các nước SNG và mở rộng quan hệ với các nước EU, trong đó có Anh, Pháp, Đức tạo thành thế chiến lược cân bằng Đông - Tây. Khi tiềm lực kinh tế của Nga được tăng cường thì việc mở rộng vị trí vai trò ở Châu A' - Thái Bình Dương càng trở lên mạnh mẽ hơn.
EU: Mục tiêu chiến lược của EU là tạo dựng một thực thể có đủ sức mạnh đối trọng với Mỹ, tách khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ, có tiếng nói độc lập trong các quan hệ quốc tế. Trước mắt EU cố gắng tạo dựng một thực thể kinh tế, tiến tới một liên minh về chính trị, quân sự từng bước mở rộng quan hệ với Nga, Trung Quốc, ấn Độ, ASEAN nhằm tạo ra một thế giới "đa cực", hạn chế vai trò lãnh đạo của Mỹ hiện nay.
Â'n Độ là một nước đông dân thứ hai sau Trung Quốc, trong tương lai có thể trở thành nước đông dân nhất thế giới, với thế mạnh của một nước lớn, Â'n Độ đang tăng tốc nền kinh tế, sẽ trở thành một cường quốc phần mềm, cường quốc hạt nhân, mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tầm kiểm soát quân sự không chỉ ở khu vực biển ả rập mà vươn dài ra Biển Đông.
Sự vươn dậy của Â'n Độ không chỉ tạo ra sự quan tâm của Mỹ mà cả Nga và Trung Quốc trong khu vực và trở thành đối tác tranh thủ, lôi kéo của cả ba nước lớn Mỹ, Trung Quốc và Nga.
3. Tác động của khu vực Châu A' - Thái Bình Dương:
Khu vực Châu A' - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động và có tốc độ phát triển cao nhất của thế giới, mặc dù do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông A' trong năm 1997 - 1998, nhịp độ tăng trưởng của Châu A' có giảm xuống. Châu A' - Thái Bình Dương đang trong quá trình liên kết kinh tế, các mô hình liên kết như ASEAN, APEC, đang vận động và phát triển, trong tương lai có thể hình thành khu vực kinh tế Đông A' khi các thực thể kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có đủ sức tách khỏi sự phụ thuộc và khống chế của Mỹ.
Khu vực Châu A' - Thái Bình Dương là khu vực tập trung nhiều lợi ích của các nước lớn (Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU, Â'n Độ), tập trung nhiều điểm nóng (Bán đảo Triều Tiên, Đài Loan, Biển Đông, Campuchia), nhiều mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ do hậu quả của chiến tranh lạnh để lại chưa được giải quyết, vẫn đang tiềm ẩn tình trạng mất ổn định. Cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia - dân tộc sẽ diễn ra quyết liệt luôn cần đến vai trò của các nước lớn nhưng do có đồng lợi ích nên ít có khả năng xảy ra xung đột, chiến tranh lớn, xu hướng chính là hòa giải, thỏa hiệp, hy sinh lợi ích của các nước nhỏ.
Các nước XHCN có xu hướng xích lại gần nhau do sự tấn công của chủ nghĩa đế quốc, do quá trình quốc tế hóa, khu vực hóa toàn cầu hóa và quá trình cải cách đổi mới CNXH hiện thực trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc mình.
4. Các nước ASEAN có nhu cầu mở rộng hợp tác nhằm tạo ra vị thế mới trong khu vực và trên thế giới.
Trong phạm vi khu vực, tất cả các nước ASEAN đều mong muốn có một nền hòa bình, ổn định, tôn trọng chủ quyền của các nước quốc gia và lợi ích các dân tộc để có cơ hội mở rộng hợp tác phát triển : xúc tiến sự phát triển của từng nước, đồng thời tạo dựng một thị trường khu vực chung, tạo thành một tổng thể chặt chẽ để có thể chống lại sức ép từ bên ngoài và nâng cao vai trò ngoại giao của các nước trong các cuộc thương lượng quốc tế, trên cơ sở Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam A' được ký năm 1976, được coi như "Bộ quy tắc ứng xử" chỉ đạo một quan hệ giữa các nước trong khu vực nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định.
5. Việt Nam có đường lối đối ngoại mới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu.
Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương và các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau không can thiệp vào những việc của nhau, bình đẳng cùng có lợi thông qua thương lượng để tìm những giải pháp phù hợp giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển.
6. Việt Nam tham gia ASEAN - yếu tố tự thân này cũng tạo ra động lực mới thúc đẩy quá trình hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN.
Việt Nam gia nhập ASEAN đã và đang tạo ra cho Việt Nam một môi trường hòa bình, ổn định để hòa nhập vào cộng đồng khu vực và quốc tế nhằm phát triển đất nước, phá thế bao vây của Mỹ, phương Tây đối với nước ta, tạo những điều kiện mới nâng cao vị thế trên thế giới, đồng thời thu hẹp sự khác biệt và tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa Việt Nam và các thành viên ASEAN, hạn chế những mặc cảm, nghi kị do lịch sử để lại, tăng cường các sức mạnh của ASEAN cũng như tạo thêm những nhân tố để củng cố hòa bình, ổn định và hạn chế những nhân tố dẫn tới sự bất hòa, mất ổn định trong khu vực. Việc ASEAN tuyên bố cam kết gìn giữ hòa bình ổn định ở Đông Nam A', giải quyết bất đồng tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình là nhân tố hết sức thuận lợi cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia, tập trung nguồn lực vào phát triển kinh tế và xây dựng đất nước.
ASEAN đang ngày càng tìm cách giảm dần sự phụ thuộc vào các nước lớn, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ hơn trong việc hoạch định đường lối, kế hoạch để gìn giữ hòa bình, ổn định khu vực vì hợp tác và phát triển. Tham gia ASEAN, Việt Nam, có điều kiện hơn để đề cao chính sách độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại, bảo vệ an ninh quốc gia của Việt Nam.
Mối quan hệ và sự hợp tác của Việt Nam với các nước thành viên ASEAN ngày càng được tăng cường thì càng giảm những vùng "đất thánh" của các thế lực thù định bên ngoài nhằm chống phá Việt Nam, làm giảm nơi ẩn náu của bọn tội phạm hình sự chạy trốn.
Là thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam bình đẳng với các thành viên khác trong hiệp hội, tham gia xây dựng những chủ trương, đường lối, chính sách và kế hoạch chung của ASEAN. Đây là một lợi thế của Việt Nam góp phần vào việc Đông Nam A' thành khu vực phát triển phù hợp vơí lợi ích của Việt Nam và các thành viên khác trong ASEAN.
Là thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam tham gia các diễn đàn (ARF, ASEM, APEC) và nhiều diễn đàn không chính thức khác, có điều kiện để đưa ra những sáng kiến và tham gia quyết định các vấn đề chung của liên hiệp hội, không để các nước khác áp đặt quan điểm của họ đối với ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng, không để các nước lớn thù địch với Việt Nam sử dụng diễn đàn để chống Việt Nam. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy hợp tác an ninh, chính trị trong khu vực.
Dựa trên những điểm đồng về giá trị châu A', về an ninh, kinh tế, văn hóa, nhân quyền... Việt Nam có thể cùng ASEAN đấu tranh chống lại những sự áp đặt quan điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, nhân quyền... và sự can thiệp của các nước lớn đối với ASEAN, chống lại ý đồ bành trướng, lấn chiếm của các nước lớn ở biển Đông nói chung, Trường Sa nói riêng.
7. Các nước ASEAN đều cam kết giữ gìn hòa bình ổn định ở Đông Nam A', giải quyết bất động tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình.
Đây là nhân tố thuận lợi cho sự phối hợp về an ninh, chính trị giữa Việt Nam và ASEAN trong 5 năm qua và mong muốn duy trì đoàn kết, nhất trí, bảo đảm sự phát triển đồng đều, nhất là trong bối cảnh ASEAN mở rộng.
Các nước ASEAN đều mong muốn tiếp tục duy trì và nâng cao vị thế vai trò của ASEAN tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong ARF. Trước những thách thức và đòi hỏi của tình hình mới, các nước ASEAN càng có nhu cầu cải tiến lề lối làm việc cũng như trong quan hệ với các nước đối tác để nâng cao tính hiệu quả của các hoạt động. Các nước ASEAN tăng cường đối thoại xây dựng lòng tin và thực hiện chính sách ngoại giao phòng ngừa dưới nhiều hình thức : song phương, đa phương, chính thức và không chính thức để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực trong đó lấy diễn đàn ARF làm nòng cốt, nhằm tìm cách hạn chế và từng bước đi đến khống chế các nguy cơ gây mất ổn định khu vực, góp phần vào việc duy trì sự ổn định ở châu A'- Thái Bình Dương nói riêng và thế giới nói chung. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình vừa qua, mặc dù trong nội bộ ASEAN xuất hiện một số thành viên dao động, nhưng các nước thành viên vẫn duy trì theo nguyên tắc đồng thuận để đi dến những giải pháp khắc phục. Các chính phủ ASEAN đã nhận thức được tính cần thiết về dân chủ hóa đời sống chính trị thực hiện công bằng xã hội ; tăng cường bàn bạc để đưa ra các biện pháp điều chỉnh chính sách ngoại giao và chính sách an ninh khu vực. Bên cạnh chủ trương giảm dần sự phụ thuộc vào các nước lớn, tăng cường tính độc lập của mình trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh, và các nước ASEAN đưa ra chính sách đoàn kết nội bộ và thực hiện chính sách ngoại giao quốc tế với các nước lớn. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN VI ở Hà Nội (12/1998), ASEAN đã nhất trí tuyên bố "Chương trình Hành động Hà Nội".
Tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN tháng 7/1999 ở Singapore, các ngoại trưởng ASEAN đã ra tuyên bố chung về an ninh khu vực, khẳng định thái độ phản đối của các nước ASEAN về sử dụng vũ khí hạt nhân, kiên quyết loại trừ các nguy cơ về thử nghiệm hoặc dùng vũ khí hạt nhân để đe dọa an ninh, chủ quyền các nước khác. Đồng thời thông qua Hội nghị này, các ngoại trưởng ASEAN cũng thống nhất các hành động tập thể về các vấn đề an ninh, quốc phòng trong nội bộ ASEAN.
II. Những nhân tố hạn chế hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN:
1. Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn trong khu vực:
Sau một thập niên sau chiến tranh, các nước lớn trên thế giới và trong khu vực châu A' - Thái Bình Dương vẫn đang tiếp tục điều chỉnh chiến lược của mình trong khu vực. Việc điều chỉnh này một mặt có tác động thúc đẩy hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN, mặt khác cũng có tác động hạn chế do lợi ích đan xen của các nước lớn, dẫn đến xu hướng ly tâm trong các nước ASEAN. Tình hình đó đã và sẽ ảnh hưởng tới sự hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN với nhau nói chung và giữa ASEAN và Việt Nam nói riêng. Do những diễn biến phức tạp trong thời gian qua (tháng 7/1997 ở Campuchia, Đông Timo năm 1999...) nguyên tắc truyền thống của ASEAN "không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau" đang bị thách thức mạnh mẽ. Có nhiều quan chức và học giả ASEAN đã đặt vấn đề ASEAN cần phải có một "chính sách can thiệp xây dựng" hay "can thiệp với đặc điểm ASEAN, với phương cách ASEAN"...
2. Cơ chế hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN là một cơ chế lỏng lẻo:
Diễn đàn an ninh Đông Nam A' (ARF) được thành lập từ năm 1993 đã có những bước tiến triển đáng kể, là một diễn đàn bổ ích cho đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị, an ninh khu vực. Tuy nhiên ARF vẫn còn là một tiến trình lâu dài và phức tạp vừa hợp tác và đấu tranh, do tính đa dạng của các thành viên cũng như tính chất các vấn đề an ninh khu vực nên không dễ dàng đi tới thống nhất những quan điểm chung. Nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau đang bị tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua do tình hình chính trị - xã hội của một số nước thành viên trong khu vực.
3. Sự khác biệt về ý thức hệ, cơ cấu chính trị - xã hội, trình độ phát triển giữa Việt Nam và một số nước trong ASEAN:
ASEAN 10 gồm các nước khác biệt về chế độ chính trị, xã hội, ý thức hệ và sự phát triển kinh tế cùng nhiều vấn đề khác. Tính đa dạng của ASEAN về các mặt chính trị, văn hóa và lợi ích an ninh... càng lớn thì ASEAN càng khó đạt lợi ích quốc gia và lợi ích chung của khu vực như thời hạn thực hiện AFTA, khả năng đóng góp vào các hoạt động chung của hiệp hội...
Một vài nước hội viên ASEAN còn e ngại về Việt Nam vốn có những bất hòa và tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, nên nếu tăng cường hợp tác về chính trị, an ninh với Việt Nam thì có thể sẽ làm phức tạp thêm mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc.
4. Tranh chấp lãnh thổ, biển đảo:
Bốn trong số 10 thành viên ASEAN (Việt Nam, Philippin, Malaysia và Brunây) có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông - khu vực có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với ASEAN mà còn đối với nhiều nước lớn và khu vực châu A' - Thái Bình Dương. Tuy ASEAN đã đưa ra những nguyên tắc chung nhằm giải quyết các tranh chấp Biển Đông (Tuyên bố của Hội nghị ngoại trưởng ASEAN tại Manila tháng 7/1992) nhưng khi xảy ra sự việc cụ thể thì không phải các nước này đều có phản ứng hoặc ứng xử như nhau. Các nước ASEAN chưa có sự thống nhất về giải pháp đối với tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc (ví dụ gần đây nhất là tháng 5/2000 Trung Quốc và Philippin đã ký tuyên bố chung về quan hệ mới và thỏa thuận giải quyết song phương hòa bình ở Trường Sa). Tình hình đó tạo điều kiện cho bên ngoài lợi dụng, gây chia rẽ ASEAN.
5. Nguy cơ xung đột sắc tộc, tôn giáo ở một vài nước ASEAN trong thời gian qua không những không làm giảm đi mà còn có chiều hướng tăng lên với những diễn biến phức tạp mới như đánh bom, bắt cóc con tin, đòi thành lập nhà nước Hồi giáo (Philipin) đòi độc lập (vùng A-chê - Inđônêxia)...
6. Vấn đề an ninh nội bộ của từng nước ASEAN nói riêng và của toàn khu vực Đông Nam A' nói chung có nhiều diễn biến phức tạp, giữa các nước thành viên ASEAN vẫn còn tồn tại nhiều tranh chấp về lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, văn hóa... Và còn tồn tại sự nghi kỵ lẫn nhau giữa một số thành viên (Malaysia và Singapore...) cần phải có thời gian dài mới giải quyết được.
Tuy các thành viên của ASEAN có cùng mục đích tôn chỉ chung, song vì truyền thống lịch sử hoặc lợi ích địa - chính trị riêng của từng nước nên mỗi thành viên ASEAN lại có chính sách an ninh riêng. Một số nước có quan hệ an ninh với một số nước ngoài khu vực, tạo điều kiện cho sự can thiệp của các nước ngoài trong trường hợp xảy ra khủng hoảng liên quan đến an ninh của các nước ASEAN đó.
7. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính vừa qua đã làm cho tình hình ở một số nước ASEAN vốn đã phức tạp càng thêm phức tạp, làm gay gắt thêm các mâu thuẫn xã hội, sắc tộc, tôn giáo, đấu tranh giành quyền lực giữa các phe phái... Tình hình đó chẳng những đã cản trở quá trình khắc phục hậu quả khủng hoảng, sự phát triển của các nước này, hạn chế sự hợp tác về mọi mặt giữa các nước mà về lâu về dài sẽ còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết và hợp tác trong ASEAN, nếu tình hình không sớm được khắc phục.
Quá trình hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN đang diễn ra trong môi trường an ninh quốc tế và khu vực có nhiều biến động, phức tạp trong thập niên 90 của thế kỷ XX. Trật tự chính trị, kinh tế thế giới đang trong quá trình định hình, những nhân tố thúc đẩy và hợp tác an ninh, chính trị Việt Nam - ASEAN thường đan xen nhau và tác động lẫn nhau. Do đó Việt Nam và các nước ASEAN muốn đẩy mạnh hợp tác an ninh, chính trị tốt, cần phải phát huy tối đa nội lực của bản thân mỗi nước trong Hiệp hội, tăng cường quan hệ với các nước lớn trong và ngoài khu vực; nâng cao tính hiệu quả của Diễn đàn an ninh khu vực ARF và tăng cường liên kết khu vực trên tất cả các bình diện khác nhau, nhất là lĩnh vực kinh tế nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho hợp tác an ninh, chính trị, hạn chế những tác động tiêu cực./.

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

Viễn cảnh quan hệ Trung - Mỹ năm 2013


Viễn cảnh quan hệ Trung - Mỹ năm 2013

Mỹ và Trung Quốc vừa hoàn thành sự kế tục lãnh đạo và giờ có thể bắt tay vào phát triển mối quan hệ đang chuyển hóa chưa từng có trong một bầu không khí tương đối ổn định ở mỗi nước. Xu hướng này sẽ tiếp tục trong 2013, nhưng hiện vẫn có những nhân tố có thể gây bất ngờ.
Thế giới 2012

Năm 2012 đã đem lại những thay đổi quan trọng cho động lực trong quan hệ Trung-Mỹ, nổi bật nhất là chủ trương của Mỹ “xoay trục” về châu Á được dư luận chú ý; lãnh đạo Trung Quốc không ngừng lên tiếng phản đối việc họ cho rằng Mỹ can thiệp vào sân trước trong chiến lược của Trung Quốc.
Quá trình chuyển giao chính trị trong nước ở Trung Quốc không gây ra bất ngờ nào. Ông Tập Cận Bình từ nhiều năm được dự kiến là người kế nhiệm. Có nhiều dấu hiệu hy vọng rằng cá nhân ông Tập Cận Bình có thể thân thiện với Mỹ, bởi giữa thập kỷ 1980, ông Tập đã có một thời gian nghiên cứu về nông nghiệp Mỹ tại Muscatine, bang Iowa.
Trong khi đó việc Tổng thống Obama tái đắc cử cũng đem lại một kết quả tương đối thuận lợi cho Trung Quốc. Đối thủ thuộc đảng Cộng hòa Mitt Romney đã từng thề là sẽ gắn cho Trung Quốc một mác “lèo lái tiền tệ” ngày đầu tiên ông lên cầm quyền – mở đường cho việc trừng phạt về thương mại. Một động thái như vậy rất có thể sẽ đem lại những tác động nghiêm trọng cho quan hệ kinh tế và chính trị giữa hai nước.
Mặc dù có những phát triển bề mặt tích cực như vậy trong quan hệ Trung-Mỹ, nhìn chung vẫn còn tồn tại những căng thẳng sâu sắc trong mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới này. Việc Mỹ “xoay trục” quân sự về châu Á và ủng hộ Nhật Bản trong cuộc tranh chấp lãnh thổ đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku đang gây ra những căng thẳng nghiêm trọng và công khai.
Thêm vào các nguồn căng thẳng mới này là một sự bất đồng lâu năm nhất về việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, đây là môt sân khấu đang được dàn dựng cho một thời đối đầu ngày một gia tăng và càng công khai giữa Mỹ và Trung Quốc trong năm 2013.

Bất ổn khu vực

Sự căng thẳng gia tăng ở biển Hoa Đông đã dẫn đến một dự báo về các mối quan hệ sóng gió trong năm tới. Cả Trung Quốc và Nhật Bản đang gia tăng sự hiện diện quân sự của mình trong và xung quanh vùng đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku. Tuần trước, máy bay chiến đấu của Nhật Bản phải đối mặt với một máy bay trinh sát của Trung Quốc trong khu vực này. Bộ Quốc phòng Trung Quốc hứa sẽ duy trì “cảnh giác cao” trong vụ tranh chấp đầy rủi ro này.
Trong khi đó thủ tướng mới của Nhật Bản, ông Shinzo Abe đang thúc đẩy một lập trường chủ động hơn của Nhật Bản chống lại những tham vọng khu vực và tuyên bố đòi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Chỉ trong vài ngày sau nhậm chức, ông Abe đã điện đàm với các nhà lãnh đạo của Việt Nam, Nga, Ấn Độ, Australia, Indonesia và Anh. Tất cả những nước này (trừ Anh là đồng minh lâu năm của Mỹ) đều ở quanh Trung Quốc. Ông Abe nói với báo chí rằng: “Quan hệ Nhật-Trung là thách thức lớn nhất trong thế kỷ 21 về lĩnh vực ngoại giao và an ninh …Tôi sẽ xây dựng lại mối quan hệ tin cậy trong liên minh Nhật-Mỹ.”
Lập trường chủ động mới của Nhật có tác động to lớn đối với chính sách của Mỹ tại khu vực. Một trụ cột cho sự dính líu của Mỹ ở châu Á là hiệp định phòng thủ chung ký với Nhật Bản. Đạo luật ủy quyền quốc phòng mới nhất, mới được quốc hội Mỹ thông qua, bao gồm hai điều khoản tối quan trọng đối với quan hệ Mỹ-Trung. Một điều khoản quy định rằng Mỹ không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp lãnh thổ đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, nhưng vẫn thừa nhận quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với quần đảo này. Ngôn từ như vậy có thể làm cho bất kỳ cuộc xung đột nào trên quần đảo Điếu Ngư/Senkaku leo thang. Tranh chấp leo thang đối với các đảo không có người ở có tiềm năng nổ ra một cuộc chiến tranh liên quan đến ba nền kinh tế lớn nhất của thế giới.
Một điều khoản khác của Đạo luật Ủy quyền quốc phòng đã chọc giận Bắc Kinh khi thể hiện Quốc hội Mỹ ủng hộ việc bán các máy bay chiến đấu tiên tiến cho Đài Loan. Bắc Kinh coi bất kỳ thương vụ nào bán vũ khí cho Đài Loan đều là sự ủng hộ cho một "tỉnh nổi loạn" và là một vi phạm trắng trợn vào vấn đề an ninh nội bộ của Trung Quốc. Động thái chính trị này của Mỹ, diễn ra tại một thời điểm gia tăng căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản, được Trung Quốc coi là một tín hiệu về sự xâm lược của Mỹ. Hai điều khoản trong Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng không mang tính ràng buộc pháp lý, mà chỉ là thể hiện "ý của Quốc hội". Tuy nhiên, biểu tượng này đã không qua mắt các nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Trong hai bài xã luận gần đây, báo nhà nước Trung Quốc đã công khai bày tỏ tức giận đối với các động thái này của Mỹ. Một bài xã luận trên tờ Nhật báo Trung Quốc tuần trước đã lên án cái mà tờ báo này gọi là sự can thiệp của Mỹ vào khu vực:
“Sự dính líu của Mỹ vào tranh chấp về dãy đảo Điếu Ngư gây phương hại cho hòa bình và ổn định khu vực, bởi vì hành động đó chỉ khuyến khích Nhật Bản ngày càng ngả theo cánh hữu …Sự lựa chọn tốt nhất vào lúc này là hai nước duy trì bầu không khí cho quan hệ song phương, chứ không phải kích động nhau về những vấn đề nhạy cảm.”
Một xã luận gần đây bằng tiến Anh trên tờ Nhân dân Nhật báo thậm chí còn thẳng thắn hơn về ý đồ chống Trung Quốc của Mỹ. Tờ báo viết: “ Sự thiếu bình tĩnh của Mỹ phản ánh tính phức tạp trong quan hệ Mỹ-Trung. Bất kể Trung Quốc nhắc lại bao nhiêu lần về con đường phát triển hòa bình và bày tỏ thiện chí trên thực tế, Mỹ vẫn nghi ngờ Trung Quốc. Mỹ có một truyền thống tạo ra những kẻ thù tưởng tượng và Trung Quốc dường như có đủ điều kiện để trở thành một kẻ thù như vậy của Mỹ theo quan điểm về văn hóa, lịch sử và xã hội. Tuy nhiên, những kẻ thù tưởng tượng mang “tính tưởng tượng” chỉ vì một lý do, và do đó sẽ là không thông minh khi biến một sự nghi ngờ chiến lược thành một cuộc đối đầu chiến lược”.
Phía Trung Quốc luôn luôn lên án Mỹ “can thiệp” vào tranh chấp biển đảo ở Đông Hải và vấn đề bán vũ khí cho Đài Loan bởi vì, trong con mắt của Bắc Kinh, đây không phải là những vấn đề quốc tế. Trung Quốc coi những vấn đề này có liên quan đến các vấn đề lịch sử nhạy cảm về chủ quyền của Trung Quốc.

Áp lực công chúng

Những ngôn từ chính trị đối đầu gữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng phản ánh trong quan điểm của người dân thường ở cả hai nước. Theo một công trình nghiên cứu về thái độ của công chúng toàn cầu của Pew, chỉ có 43% người Trung Quốc nhìn nhận Mỹ một cách có thiện cảm, giảm hơn so với tỷ lệ 58% trước đây.
Trong khi đó 26% người dân ở Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung-Mỹ là mối quan hệ “ác cảm”, tăng hơn so với tỷ lệ 8% hai năm về trước. Rõ ràng là những con số này ở một mức độ rộng lớn hơn bị tác động bởi ngôn từ của truyền thông.
Trong khi đó công trình nghiên cứu về thái độ của công chúng toàn cầu của Pew cho thấy kết quả số người Mỹ nghi ngờ và lo ngại về Trung Quốc ngày một tăng. Năm ngoái chứng kiến một sự thay đổi quan trọng số người Mỹ ủng hộ “quan hệ mạnh mẽ hơn” với Trung Quốc sang ủng hộ “phải cứng rắn hơn với Trung Quốc”. Những quan ngại về kinh tế - như việc Trung Quốc đang nắm giữ phần lớn món nợ công của Mỹ và mất công ăn việc làm ở Mỹ cho Trung Quốc – là những vấn để lo ngại nhiều nhất trong nội bộ người Mỹ khi nói về Trung Quốc. Những vấn đề như nhân quyền và các khả năng quốc phòng ngày càng tăng của Trung Quốc chỉ thấy ở chưa đến 50% dân số Mỹ.
Tất nhiên, việc Mỹ tăng triển khai quân sự trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương không thể làm được gì nhiều để cải thiện nền kinh tế Mỹ. Trong khi kinh tế trì trệ và bế tắc chính trị đe dọa đưa nước Mỹ đến bờ vực của "vách đá tài chính", các chỉ số kinh tế vĩ mô của Trung Quốc lại mạnh mẽ một cách đáng ngạc nhiên. Điều đó không phải để nói rằng Trung Quốc không có vấn đề nội bộ. Những vấn đề như chống tham nhũng và cải cách theo hướng dân chủ trong nước sẽ là trọng tâm chính của các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc trong năm tới.
Một động lực đối đầu đang phát triển một cách chậm chạp giữa Mỹ và Trung Quốc và sẽ tiếp tục trong một tương lai gần. Năm 2012 đã đưa Mỹ “xoay trục” về châu Á và chứng kiến sự leo thang chưa từng thấy trong cuộc tranh chấp lãnh thổ dai dẳng ở Đông Hải. Năm 2013 có lẽ sẽ đem lại nhiều bất ngờ hơn về chính sách. Cả hai cường quốc có thể sẽ tập trung nhiều hơn vào những vấn đề nội bộ, nhưng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng tốc nhằm vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Vì thế những ai quan tâm đến mối quan hệ giữa hai cường quốc này có thể chờ đợi những điều bất ngờ.
Phạm Ngọc Uyển (theo Asia Times)

Quan hệ Mỹ - Trung sau quá trình chuyển giao quyền lực


Quan hệ Mỹ - Trung sau quá trình chuyển giao quyền lực

(VOV) - Quá trình chuyển đổi và hoàn thiện bộ máy lãnh đạo mới ở Mỹ và Trung Quốc đang mở ra hy vọng cải thiện mối quan hệ hai nước.
Hãng thông tấn Tân Hoa xã mới đây đã có bài viết đề cập đến mối quan hệ Mỹ - Trung sau khi cả Trung Quốc và Mỹ vừa hoàn thành quá trình chuyển giao thế hệ lãnh đạo. Bài viết cho rằng, việc hoàn thiện bộ máy lãnh đạo mới ở hai nước mở ra hy vọng mới cho hai nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể mở rộng quan hệ hợp tác với phương châm “cùng có lợi”.
Trong cuộc điện đàm ngày 14/3 sau khi ông Tập Cận Bình được bầu là Chủ tịch nước Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Obama cho rằng, hai nước đang đứng trước một cơ hội lịch sử để có thể xây dựng “biểu đồ” mới cho mối quan hệ song phương giữa hai nước trong tương lai.
Trong cuộc điện đàm này, lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc cam kết tiếp tục đối thoại và trao đổi, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau cũng như nỗ lực hợp tác để xây dựng mối quan hệ mới giữa hai cường quốc thay vì tiếp tục cạnh tranh và đối đầu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) tại cuộc gặp với Tổng thống Obama trong chuyến thăm Mỹ năm 2012. Khi đó ông Tập Cận Bình là Phó Chủ tịch nước Trung Quốc (Ảnh: Reuters)
Hợp tác dần thay thế đối đầu?
Trong một bài phát biểu về chính sách châu Á-Thái Bình Dương tại New York tuần trước, Thomas Donilon - cố vấn an ninh hàng đầu của Tổng thống Mỹ Obama lưu ý rằng: "Quá trình chuyển đổi lãnh đạo ở Trung Quốc và việc ông Obama tái đắc cử Tổng thống Mỹ đánh dấu một giai đoạn mới trong quan hệ Mỹ - Trung với những cơ hội mới".
Trên thực tế, sau gần bốn thập kỷ phát triển mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, mặc dù không phải là không có lúc xáo trộn và thăng trầm, Mỹ -Trung đã đạt được nhiều kết quả góp phần đưa quan hệ hai nước lên một cấp độ cao hơn.
"Mối quan hệ Mỹ - Trung có thể ví như một cánh cửa có thể mở rộng quan hệ, nhưng nó có thể đóng lại một cách nhanh chóng nếu như bạn không chớp cơ hội để vọt qua" ông Jonathan Pollack, giám đốc Trung tâm John Thornton Trung Quốc thuộc Viện nghiên cứu Brookings ở Washington nói.
Có thể nói, một nền tảng vững chắc đã được thiết lập cho việc xây dựng mối quan hệ kiểu mới giữa Mỹ và Trung Quốc. Sự liên kết giữa hai nước về kinh tế và thương mại có thể nói chưa bao giờ gần gũi hơn thời điểm này. Hiện hai nước đang là đối tác thương mại lớn nhất của nhau với kim ngạch thương mại hàng năm đạt gần 500 tỷ USD trong năm 2012.
Washington và Bắc Kinh đã duy trì liên lạc và đối thoại cấp cao thông qua các Hội nghị Thượng đỉnh, cũng như các cuộc Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế được tổ chức hàng năm. Việc trao đổi đoàn và trao đổi văn hóa đã đạt đến một mức độ chưa từng có, trong khi các hoạt động trao đổi quân sự và đối thoại cũng đang được bình thường hóa.
Ngoài ra, Trung Quốc và Mỹ cũng đã phối hợp chặt chẽ trong việc đối phó với các vấn đề nổi cộm trong khu vực và toàn cầu như: vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và Iran; chống khủng bố; an ninh năng lượng; biến đổi khí hậu; an ninh lương thực, kiểm soát dịch bệnh, cũng như đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Ông Tập Cận Bình trong chuyến thăm Mỹ trên cương vị Phó Chủ tịch nước năm 2012 đã bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ đối với ý tưởng và đề xuất về nguyên tắc gồm 5 điểm để xây dựng mối quan hệ mới giữa Mỹ và Trung Quốc. Nguyên tắc này bao gồm việc tăng cường đối thoại và thông tin liên lạc giữa hai nước; mở rộng hợp tác thiết thực; thúc đẩy sự tin cậy chiến lược; tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và chung tay trong việc đối phó với những thách thức trên toàn thế giới. Chính quyền của Tổng thống Obama cũng đã có những phản ứng tích cực đối với đề xuất này.
"Chúng tôi không muốn mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc được định nghĩa với sự cạnh tranh và đối đầu", ông Donilon cho biết trong bài phát biểu ở New York.
Trong khi đó, Bonnie Glaser, một chuyên viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ cho biết, việc hai nhà lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng của việc duy trì mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc là “tín hiệu tốt đẹp cho mối quan hệ giữa hai nước trong tương lai”.
Trong một dấu hiệu tích cực khác, các quan chức hàng đầu về chính trị và quân sự của Mỹ, trong đó có Bộ trưởng Tài chính Jacob Lew, Ngoại trưởng John Kerry và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Martin Dempsey, đã và đang chuẩn bị cho các chuyến thăm Trung Quốc trong tương lai gần với mục tiêu tiếp tục các cuộc đối thoại cấp cao và hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau giữa hai nước.
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (phải) gặp Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Lew tại Bắc Kinh ngày 20/3/2013 (Ảnh: Tân Hoa Xã)
Rào cản lớn vẫn nằm ở phía trước
Mặc dù có nhiều tín hiệu lạc quan trong quan hệ Mỹ - Trung, nhưng theo các chuyên gia, vẫn còn nhiều rào cản và khó khăn phía trước với cả hai nước để xây dựng mối quan hệ kiểu mới.
“Sự thành công phụ thuộc vào việc hai bên xác định khái niệm về mối quan hệ mới như thế nào”, bà Glaser - một chuyên viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ nói.
Ông Jonathan Pollack - Giám đốc Trung tâm John Thornton Trung Quốc thuộc Viện nghiên cứu Brookings ở Washington thì cho rằng: Trong thời điểm hiện nay, rất khó để xác định chính xác các nội dung trong việc xây dựng mối quan hệ mới này, bởi nó là một khái niệm rộng.
Cả Mỹ và Trung Quốc đang phải đối mặt với thách thức "xây dựng khái niệm cho mối quan hệ theo kiểu mới này và xem nó hoạt động như thế nào trong thực tế", ông Jonathan Pollack nói.
Mặc dù đã có những bước tiến lớn trong việc cải thiện mối quan hệ song phương, vẫn còn một khoảng cách lớn để hai nước có thể thiết lập đầy đủ sự tin cậy chiến lược - điều cần thiết để giảm bớt hiểu lầm và tăng cường sự đồng thuận giữa hai bên.
Bên cạnh sự khác biệt về chính trị và xã hội, các giai đoạn phát triển và truyền thống lịch sử và văn hóa giữa hai nước, Mỹ và Trung Quốc vẫn tồn tại những tranh cãi xung quanh các vấn đề về nhân quyền, tôn giáo và thương mại. Mặt khác, Bắc Kinh cũng cho rằng, Washington tiếp tục tạo ra các rào cản mới, bằng cách thổi phồng lên cái gọi là "Lý thuyết về mối đe dọa Trung Quốc".
Mới đây nhất, vấn đề an ninh mạng lại “làm nóng” mối quan hệ giữa hai nước khi Mỹ đưa ra cáo buộc các hacker từ Trung Quốc đã tấn công các hệ thống máy tính của Mỹ để ăn cắp dữ liệu chính trị, an ninh và bí mật thương mại. Ngoài ra, một ủy ban của Hạ viện Mỹ năm 2012 thậm chí còn đề xuất một lệnh cấm các công ty viễn thông Trung Quốc được tiếp cận với thị trường Mỹ với lý do “đe dọa an ninh quốc gia của đất nước” mà phía Trung Quốc cho rằng đó là “những bằng chứng vô căn cứ”.
Bên cạnh đó, mối quan hệ về quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc cũng được xem là một mắt xích yếu nhất trong nỗ lực xây dựng mối quan hệ kiểu mới. "Các cuộc đối thoại về quân sự đã tụt hậu khá xa so với đối thoại về chính trị và kinh tế”, bà Glaser cho biết. Ngoài ra, với lý do Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, Trung Quốc đã nhiều lần đình chỉ các cuộc đối thoại và trao đổi quân sự với Mỹ để phản đối. Chính vì vậy, mối quan hệ hợp tác về quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới sẽ như thế nào tiếp tục là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu và cộng đồng quốc tế./.